Đánh giá chủ đề:
  • 0 lượt đánh giá - trung bình 0
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Ngũ hành và tạng phủ: cái cầu nối giữa mệnh lý và y lý
#1
Người học Tử Vi thường xem cung Tật Ách rồi bí, vì không biết sao Hỏa thì bệnh gì, sao Thủy thì bệnh gì. Cái cầu nối là ngũ hành tạng phủ của Đông y. Bài này viết phần nền, không dạy chữa bệnh.

1. Bảng ngũ hành tạng phủ

Mã:
Hành Tạng Phủ Khiếu Thể Chí Mùa Vị Sắc Mộc Can Đởm Mắt Gân Giận Xuân Chua Xanh Hỏa Tâm Tiểu trường Lưỡi Mạch Mừng Hạ Đắng Đỏ Thổ Tỳ Vị Miệng Cơ nhục Lo Trưởng hạ Ngọt Vàng Kim Phế Đại trường Mũi Da lông Buồn Thu Cay Trắng Thủy Thận Bàng quang Tai Xương Sợ Đông Mặn Đen

Tạng là cơ quan đặc (gan, tim, lá lách, phổi, thận), thuộc âm, chứa tinh khí. Phủ là cơ quan rỗng (mật, ruột non, dạ dày, ruột già, bàng quang), thuộc dương, chuyển hóa. Mỗi tạng ứng một phủ, một giác quan, một loại mô, một cảm xúc.

Lưu ý: "Can", "Tâm", "Thận" của Đông y là hệ thống chức năng, không phải đúng lá gan, quả tim, quả thận giải phẫu. Thận của Đông y bao gồm cả sinh dục, nội tiết, xương, tai, tóc.

2. Sinh khắc trong cơ thể
  • Tương sinh: Mộc sinh Hỏa (Can nuôi Tâm), Hỏa sinh Thổ (Tâm ấm Tỳ), Thổ sinh Kim (Tỳ nuôi Phế), Kim sinh Thủy (Phế dưỡng Thận), Thủy sinh Mộc (Thận dưỡng Can).
  • Tương khắc: Mộc khắc Thổ (Can khí uất thì hại Tỳ, giận thì đau dạ dày), Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Khắc trong mức độ là điều hòa. Khắc quá mức là bệnh, gọi là tương thừa. Bị khắc ngược lại gọi là tương vũ.

3. Nối sang mệnh lý

Khi xem cung Tật Ách hoặc Tứ Trụ, người ta đối chiếu hành của sao hay của can chi với bảng trên:
  • Hành Mộc bị khắc hay quá vượng: gan mật, mắt, gân, dễ cáu.
  • Hành Hỏa: tim mạch, huyết áp, lưỡi, mất ngủ, dễ bồn chồn.
  • Hành Thổ: tiêu hóa, dạ dày, lá lách, hay lo nghĩ, cơ bắp yếu.
  • Hành Kim: phổi, hô hấp, da, mũi, đại tràng, hay buồn.
  • Hành Thủy: thận, tiết niệu, xương khớp, tai, sinh dục, hay sợ.

Ví dụ trong Tử Vi: Mệnh có Liêm Trinh (Hỏa) Hóa Kỵ, Tật Ách có Hỏa Tinh, người này nên để ý tim mạch và huyết áp. Cung Tật Ách có Thái Âm (Thủy) hãm cộng Đà La, để ý thận, phụ khoa, mắt.

4. Dùng bảng này để sống, không phải để sợ

Bảng ngũ hành cũng cho biết cách dưỡng: hành nào yếu thì ăn vị của hành sinh nó, giữ cảm xúc tương ứng, sống theo mùa. Mộc yếu thì ngủ sớm, bớt giận. Thổ yếu thì ăn ấm, bớt lo. Thủy yếu thì giữ ấm lưng, bớt sợ hãi. Đó mới là chỗ Đông y và mệnh lý gặp nhau: biết mình yếu chỗ nào để giữ, chứ không phải biết mình sẽ bệnh gì để lo.

Bệnh thật thì đi khám. Diễn đàn không thay bác sĩ.
Số là thật, và số đổi được.
Trả lời


Chuyển nhanh:


Đang xem chủ đề này: