| Xin chào, Khách |
Bạn cần đăng ký trước khi có thể đăng bài.
|
| Đang trực tuyến |
Hiện có 2 người đang trực tuyến. » 0 thành viên | 2 khách
|
| Chủ đề mới nhất |
Nữ mệnh trong sách cũ: nh...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 39
|
Mệnh Vô chính diệu: không...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 29
|
Cách cục kinh điển: nhận ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 33
|
Mười hai cung chức: đọc t...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 33
|
Tuần và Triệt: đặc sản củ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 36
|
Tìm thầy: dấu hiệu của ng...
Chuyên mục: Tìm thầy và Học thuật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 43
|
Kêu gọi góp tư liệu: các ...
Chuyên mục: Tư liệu và Tiểu sử
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 39
|
Khuôn khổ của mục Tâm lin...
Chuyên mục: Tâm linh và Chuyện có thật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 39
|
Ba dòng tư tưởng và dấu v...
Chuyên mục: Đạo giáo, Lão Trang và Nho học
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 33
|
Dưỡng sinh theo mùa và mấ...
Chuyên mục: Dưỡng sinh, Khí công và Thiền
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 35
|
|
|
| Nữ mệnh trong sách cũ: những câu phú cần đọc lại bằng con mắt hôm nay |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 19:59 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
- Chưa có trả lời
|
 |
Đọc sách Tử Vi cũ đến phần "nữ mệnh" là gặp ngay những câu làm người đọc thời nay khó chịu. Bài này không né, mà nói thẳng.
1. Sách cũ nói gì
Các bộ phú nữ mệnh cổ đánh giá phụ nữ theo một khung khá hẹp: lấy được chồng tốt, sinh con, giữ nhà, thuận hòa là quý. Ngược lại, những lá số có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Kình Dương thủ Mệnh thường bị chê là "cô khắc", "hình phu", "bất lợi cho chồng". Vũ Khúc thủ Mệnh nữ bị chê là quả cách. Thái Âm hãm thì bị nói lận đận. Đại loại vậy.
2. Vì sao sách viết như thế
Vì trong xã hội cũ, một người phụ nữ không có con đường sống nào khác ngoài gia đình. Sao Thất Sát cho tính độc lập, quyết đoán, muốn tự làm chủ. Đặt tính chất ấy vào một xã hội không cho phép phụ nữ tự chủ thì kết quả đúng là xung đột, đúng là khổ. Người xưa quan sát và ghi lại kết quả ấy, không sai với thời của họ.
Nhưng cái họ ghi là hệ quả xã hội, không phải bản chất của sao.
3. Đọc lại thế nào cho đúng
Nguyên tắc tôi dùng: giữ tính lý của sao, bỏ kết luận xã hội gắn kèm.
- Thất Sát nữ mệnh: quyết đoán, độc lập, gánh vác, không chịu lệ thuộc. Ngày nay đó là mô tả của rất nhiều người phụ nữ làm chủ, làm quản lý. "Hình phu" nên đọc lại là: khó hợp với người bạn đời muốn một người vợ phục tùng. Vấn đề là chọn người, không phải là số khổ.
- Vũ Khúc nữ mệnh: giỏi tiền bạc, thực tế, cứng cỏi, ít nói lời ngọt. Hợp nghề tài chính, kinh doanh. Cái "quả cách" của sách cũ thực chất là mô tả người không giỏi làm dáng tình cảm, không phải người không được yêu.
- Tham Lang nữ mệnh: giao thiệp rộng, có sức hút, đa tài, thích cái đẹp. Sách cũ quy ngay về "đào hoa" theo nghĩa xấu. Nay nên đọc là năng lực xã hội và nghệ thuật.
- Phá Quân nữ mệnh: dám bỏ cái cũ, dám làm lại, chịu được xáo trộn. Hợp người khởi nghiệp, người làm nghề sáng tạo.
- Kình Dương, Đà La: quyết liệt, chịu đựng. Đắc địa thì thành người có bản lĩnh.
4. Cái nào trong sách cũ vẫn đúng
Không phải bỏ hết. Những phần sau vẫn nghiệm được:
- Cung Phu Thê nhiều sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt thì đường hôn nhân trắc trở thật, cả nam lẫn nữ. Đây là quan sát trung tính, không phân biệt giới.
- Mệnh và Phu Thê xung khắc mạnh thì hay chọn nhầm người. Điều này đúng và có ích: biết trước thì cẩn thận khi chọn.
- Cung Tử Tức xấu thì con cái muộn hoặc ít. Vẫn là quan sát được.
Khác biệt nằm ở chỗ: nói "trắc trở, cần cẩn trọng khi chọn bạn đời" thì có ích. Nói "số này sát chồng" thì vừa sai vừa ác.
5. Quy tắc của diễn đàn
Khi luận nữ mệnh trên đây, xin theo mấy điều:
- Không dùng chữ "sát phu", "hình phu", "cô quả" như một kết luận. Nếu trích phú thì ghi rõ là trích và giải thích bối cảnh.
- Không phán ly hôn, không phán vô sinh, không phán "khó lấy chồng".
- Luận nghề nghiệp và năng lực cho nữ mệnh y như nam mệnh. Thất Sát nữ cũng hợp làm chỉ huy như Thất Sát nam.
- Nếu người hỏi lo lắng về hôn nhân, hãy nói về kiểu người hợp và điều cần tránh, đừng nói về "số phận".
6. Một ý cuối
Tử Vi là công cụ quan sát, và công cụ nào cũng mang dấu vết thời đại làm ra nó. Giữ lấy phần quan sát, bỏ phần định kiến, đó mới là kế thừa. Cụ Thái Thứ Lang, cụ Thiên Lương nếu sống ở thời này chắc cũng viết lại phần nữ mệnh.
Mời các chị em trong diễn đàn góp tiếng. Phần này rất cần người trong cuộc lên tiếng, không nên để mấy ông ngồi bàn với nhau.
|
|
|
| Mệnh Vô chính diệu: không sao mà lại lắm chuyện |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 19:44 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
- Chưa có trả lời
|
 |
"Vô chính diệu" là cung không có chính tinh nào. Người mới thấy cung Mệnh trống thì hoang mang, tưởng lá số hỏng. Không phải. Đây là một dạng mệnh riêng, có nguyên tắc đọc riêng.
1. Vì sao có cung trống
14 chính tinh chia vào 12 cung, tất yếu có cung chứa hai sao và có cung không sao. Mỗi lá số thường có từ hai đến bốn cung vô chính diệu. Cung Mệnh rơi vào một trong số đó là chuyện bình thường về mặt xác suất.
2. Cách đọc: mượn sao
Nguyên tắc chung của Tử Vi Việt Nam: mượn chính tinh ở cung xung chiếu (cung đối diện) để luận, nhưng sức chỉ còn khoảng một nửa. Ví dụ Mệnh vô chính diệu tại Tý, cung Ngọ có Thái Dương, thì mượn Thái Dương mà luận, hiểu là "có tính chất Thái Dương nhưng nhạt hơn".
Một số phái mượn cả tam hợp. Tôi thấy mượn xung chiếu là chính, tam hợp chỉ tham khảo.
3. Vì sao vô chính diệu lại được coi là có thể quý
Câu phú quen thuộc: "Vô chính diệu đắc tam Không, phú quý khả kỳ." Ý là Mệnh vô chính diệu mà gặp đủ ba "Không" (thường hiểu là Tuần, Triệt và Địa Không, có sách kể Thiên Không) thì lại thành cách quý.
Lý lẽ của người xưa: cung trống như tờ giấy trắng, không bị sao nào định hình. Thêm "Không" nữa là trống hoàn toàn, mà cái trống thì chứa được nhiều. Người như vậy dễ thích nghi, đổi nghề đổi vai được, không bị bó vào một khuôn.
Tôi không dám khẳng định phú này đúng đến đâu, nhưng nghiệm thực tế thì người vô chính diệu quả thật hay đa năng và khó đoán.
4. Đặc điểm thường thấy của người Mệnh vô chính diệu
- Tính cách không rõ nét, tùy hoàn cảnh mà đổi. Người ngoài khó "chấm" được họ.
- Chịu ảnh hưởng môi trường rất mạnh. Ở với người tốt thì tốt, ở với người xấu thì hỏng. Nên cung Thiên Di và cung Nô Bộc rất quan trọng với dạng mệnh này.
- Tuổi trẻ thường lận đận, mờ nhạt, không biết mình muốn gì. Định hình muộn.
- Về sau nếu gặp môi trường hợp thì phát rất nhanh, vì không bị khuôn cũ giữ lại.
- Hay đổi nghề, đổi nơi ở, và thường thành công ở nghề không liên quan gì tới cái học ban đầu.
5. Cách luận cho đúng
- Xem cung xung chiếu trước, đó là "gương mặt mượn".
- Xem cung Thân. Với người vô chính diệu, cung Thân thường quyết định nhiều hơn Mệnh.
- Xem Phúc Đức và Thiên Di kỹ hơn bình thường, vì họ sống nhờ môi trường.
- Xem các sao phụ tinh đóng tại Mệnh. Cung trống chính tinh nhưng thường vẫn có phụ tinh, và với dạng mệnh này phụ tinh có tiếng nói lớn hơn.
- Đừng vội kết luận. Dạng mệnh này cần đối chiếu sự kiện thật nhiều hơn mọi dạng khác.
6. Lời khuyên cho người có mệnh này
Chọn môi trường quan trọng hơn chọn nghề. Chọn người quanh mình quan trọng hơn chọn việc. Và đừng sốt ruột nếu ngoài ba mươi vẫn chưa biết mình là ai, dạng mệnh này định hình muộn là bình thường.
Ai có Mệnh vô chính diệu, kể chuyện đời mình bên dưới, ta cùng nghiệm. Đây là dạng mệnh cần dữ liệu thật nhiều nhất.
|
|
|
| Cách cục kinh điển: nhận mặt lá số trong ba mươi giây |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 19:29 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
- Chưa có trả lời
|
 |
Người đọc số lâu năm nhìn lá số vài giây là biết đại khái. Không phải thần thông, mà là nhận ra cách cục. Bài này liệt kê các cách hay gặp nhất.
I. BỐN BỘ CHÍNH TINH LỚN
1. Tử Phủ Vũ Tướng (Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng, thêm Liêm Trinh)
Bộ "quản trị". Người có Mệnh nằm trong bộ này thường có tổ chức, giữ được của, hợp làm quản lý, hành chính, tài chính, nghề ổn định lâu dài. Ưu: bền, có uy. Nhược: bảo thủ, ngại mạo hiểm, dễ thành công chức cả đời nếu không có sát tinh thúc.
2. Sát Phá Tham (Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang)
Bộ "hành động". Ba sao này luôn ở tam hợp với nhau. Người thuộc bộ này đời nhiều biến động, thích tự làm, dám mạo hiểm, thay đổi nghề và chỗ ở nhiều lần. Ưu: có thể lên rất cao, làm được việc người khác không dám. Nhược: không yên, phá rồi lập, lập rồi phá. Bộ này cần sát tinh và cần vất vả mới thành, sống êm quá lại phí.
3. Cơ Nguyệt Đồng Lương (Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương)
Bộ "văn phòng". Hợp làm công ăn lương, chuyên môn, tham mưu, giáo dục, y tế, nghiên cứu. Ưu: an ổn, có học, được quý nhân. Nhược: thiếu quyết đoán, khó làm chủ lớn, hay nghĩ ngợi. Người bộ này khởi nghiệp thường vất vả hơn bộ Sát Phá Tham.
4. Cự Nhật (Cự Môn, Thái Dương)
Bộ "ngôn ngữ và danh tiếng". Hợp nghề nói, dạy, luật, truyền thông, ngoại giao. Cự Nhật ở Dần là "Cự Nhật đồng cung" sáng sủa, ở Thân thì kém hơn. Cần Thái Dương sáng để Cự Môn hết ám.
II. CÁC CÁCH CỤ THỂ THƯỜNG ĐƯỢC NHẮC
- Tử Phủ đồng cung (Dần hoặc Thân): vua và kho cùng chỗ. Cách quý, có tài có vị, nhưng dễ tự mãn.
- Phủ Tướng triều viên: Thiên Phủ và Thiên Tướng cùng chầu về cung Mệnh (tam hợp). Cách phúc hậu, có người phò tá, làm việc gì cũng có chỗ dựa, hợp làm phó soái hơn làm soái.
- Nhật Nguyệt tịnh minh: Thái Dương và Thái Âm đều sáng, chiếu Mệnh. Cách rất quý, thông minh, danh và lợi đều có.
- Nhật Nguyệt phản bối: cả hai đều hãm. Vất vả, sớm xa cha mẹ, phải tự lập.
- Cơ Nguyệt Đồng Lương cách: đủ bốn sao hội Mệnh, hợp công chức, chuyên viên.
- Hỏa Tham, Linh Tham: Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đắc địa. Cách phát nhanh, phát bất ngờ, thường là tài lộc đến đột ngột. Nhưng đến nhanh cũng đi nhanh nếu không có sao giữ.
- Mã đầu đới kiếm: Kình Dương ở Ngọ. Cách của người xông pha, quân đội, nghề nguy hiểm, cần dũng.
- Thạch trung ẩn ngọc: Cự Môn ở Tý hoặc Ngọ, có Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền. Ngọc trong đá, tài năng bị vùi rồi mới lộ, thành đạt muộn mà chắc.
- Quân thần khánh hội: Tử Vi có đủ Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt chầu. Vua có đủ triều thần, cách đại quý.
- Tam kỳ gia hội: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng hội. Cách quý, đời được nâng đỡ nhiều mặt.
- Song Lộc triều viên: Hóa Lộc và Lộc Tồn cùng chầu Mệnh. Tài lộc dồi dào.
- Kình Đà giáp Mệnh, Hỏa Linh giáp Mệnh, Không Kiếp giáp Mệnh: bị hai sát tinh kẹp hai bên. Cách vất vả, bị chèn ép, phải nỗ lực gấp đôi.
- Mệnh vô chính diệu: không có chính tinh. Có bài riêng, xem dưới.
III. CÁCH DÙNG BẢNG NÀY CHO ĐÚNG
- Cách cục là khung tham khảo, không phải bản án. Có cách quý mà đời thường vẫn nhiều, vì còn hạn, còn phúc, còn hành vi.
- Phải đủ điều kiện mới gọi là thành cách. "Quân thần khánh hội" mà thiếu nửa số sao thì không tính.
- Cách xấu gặp Tuần Triệt, gặp cát tinh hóa giải thì nhẹ đi nhiều.
- Cách cục nói về kiểu người và kiểu đời, không nói về giàu nghèo cụ thể. Cùng bộ Sát Phá Tham, người thành doanh nhân lớn, người thành thợ giỏi, khác nhau ở hạn và ở lựa chọn.
Ai biết cách cục nào hay mà tôi chưa liệt kê, bổ sung bên dưới, tôi gộp vào bài chính và ghi tên người bổ sung.
|
|
|
| Mười hai cung chức: đọc từng cung như thế nào |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 19:14 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
- Chưa có trả lời
|
 |
Bài trước nói về sao. Bài này nói về cung. Cùng một sao đặt ở cung khác nhau thì nghĩa khác hẳn, nên đọc cung là kỹ năng riêng.
Nguyên tắc chung trước khi vào từng cung
- Xem chính tinh thủ cung, miếu hay hãm.
- Cung không có chính tinh thì mượn sao cung xung chiếu.
- Xem tam hợp và xung chiếu của chính cung đó, không chỉ nhìn một ô.
- Xem Tuần Triệt, Tứ Hóa, sát tinh trong cung.
- Đối chiếu với cung Mệnh: cung nào cũng phải đặt trong tương quan với Mệnh.
1. Mệnh — bản thân, tính cách, thể chất, khuynh hướng đời người. Cung gốc. Đọc Mệnh phải đọc luôn Tài, Quan, Di (tam phương tứ chính).
2. Phụ Mẫu — cha mẹ, xuất thân, tuổi thơ, người trên, cấp trên, và cả "phúc phần được thừa hưởng". Cung này tốt thì tuổi nhỏ được nuôi dạy tử tế, ra đời có người đỡ. Sát tinh nhiều thì xa cha mẹ sớm hoặc cha mẹ vất vả. Lưu ý: Phụ Mẫu xấu không có nghĩa cha mẹ xấu, thường là duyên mỏng hoặc cha mẹ vất vả.
3. Phúc Đức — phúc phần, tinh thần, dòng họ, tuổi già, và "cái đệm" khi gặp nạn. Tử Vi Việt Nam coi cung này rất nặng. Phúc tốt thì gặp việc hiểm vẫn có đường ra, tâm an. Phúc xấu thì mọi thứ khác tốt cũng chông chênh, hay lo nghĩ, dễ bất an. Người xem số giỏi thường nhìn Phúc trước cả Mệnh.
4. Điền Trạch — nhà đất, tài sản cố định, nơi ở, và cả "hậu phương". Có sao tốt là an cư, mua được nhà. Có Tuần Triệt hoặc sát tinh là hay dời chỗ, ở thuê lâu, hoặc nhà cửa có chuyện.
5. Quan Lộc — sự nghiệp, chức vụ, danh vị, công việc. Không chỉ là "làm quan". Đọc cung này để biết hợp nghề gì: Vũ Khúc thì tài chính kỹ thuật, Cự Môn thì nói năng dạy học, Thiên Cơ thì tham mưu, Thất Sát thì độc lập, chỉ huy.
6. Nô Bộc — bạn bè, đồng nghiệp, người dưới, khách hàng, cộng sự. Ngày xưa gọi là "tôi tớ", giờ nên hiểu là mạng lưới quan hệ ngang. Cung này xấu thì hay bị bạn bè, người làm gây phiền. Người làm ăn phải xem kỹ cung này.
7. Thiên Di — ra ngoài, đi xa, môi trường bên ngoài, cách người đời nhìn mình. Thiên Di là cung xung chiếu Mệnh nên rất quan trọng. Mệnh yếu mà Di mạnh thì "ra ngoài mới nên người", hợp xa quê. Mệnh mạnh mà Di xấu thì nên giữ mình ở gần.
8. Tật Ách — bệnh tật, tai nạn, và cả tật tính. Cung này phải đọc thận trọng nhất. Nguyên tắc của tôi: chỉ nói nên giữ gìn bộ phận nào, không bao giờ phán bệnh cụ thể hay thời điểm. Đối chiếu ngũ hành sao với tạng phủ (xem bài bên mục Y học cổ truyền).
9. Tài Bạch — tiền bạc, cách kiếm và cách giữ. Chú ý phân biệt: có sao tốt là kiếm được, không có nghĩa giữ được. Muốn biết giữ được không phải xem thêm Điền Trạch và Phúc Đức.
10. Tử Tức — con cái, học trò, và cả "cái mình tạo ra". Người không có con thì cung này nói về sản phẩm, tác phẩm, người mình dìu dắt.
11. Phu Thê — vợ chồng, người bạn đời, tình cảm lứa đôi. Đọc cung này cho biết kiểu người mình hợp và cách mình yêu, hơn là "được mấy đời chồng". Đừng bao giờ phán ly hôn.
12. Huynh Đệ — anh chị em, và người cùng vai. Cũng cho biết quan hệ với người ngang hàng trong nhà.
Vài quy tắc đọc chéo hay dùng
- Cung xung chiếu bổ nghĩa cho cung chính: Mệnh–Di, Tài–Phúc, Quan–Phu Thê, Điền–Tử Tức, Phụ Mẫu–Tật Ách, Huynh Đệ–Nô Bộc.
- Cung Quan xung chiếu Phu Thê nên sự nghiệp và hôn nhân luôn ảnh hưởng nhau. Đây là cặp hay gặp nhất trong đời thực.
- Cung Điền xung chiếu Tử Tức: nhà cửa và con cái liên quan.
- Cung Phúc xung chiếu Tài: phúc mỏng thì tiền khó bền.
Ai muốn đi sâu một cung, mở topic riêng đặt tên "Cung [tên cung]: ...", tôi sẽ gom thành mục lục.
|
|
|
| Tuần và Triệt: đặc sản của Tử Vi Việt Nam |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 18:59 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
- Chưa có trả lời
|
 |
Không có chương nào trong Tử Vi bị cãi nhau nhiều như Tuần Triệt. Sách Trung Hoa hầu như không dùng. Sách Việt thì coi là then chốt. Tôi viết lại cho gọn, kèm chỗ nào là đồng thuận, chỗ nào còn tranh luận.
1. Bản chất
Tuần và Triệt không phải sao. Chúng là khoảng trống, là "chỗ hụt" của can chi, án ngữ hai cung liền nhau. Sao rơi vào đó bị mất chỗ đứng: cái tốt không phát huy hết, cái xấu cũng không tác oai được.
Cách an đã có trong bài Phép an sao (3). Nhắc lại một câu: Tuần theo can chi năm sinh (theo tuần Giáp trong lục thập hoa giáp), Triệt theo can năm sinh.
2. Khác nhau giữa Tuần và Triệt
Đây là phần đồng thuận rộng nhất:
- Triệt mạnh, gấp, dứt khoát. Như con dao chặt ngang. Tác động rõ ở nửa đầu đời (thường nói trước 30 tuổi), sau đó nhẹ dần.
- Tuần nhẹ hơn, kéo dài, mang tính che phủ, trì hoãn. Tác động rõ hơn ở nửa sau đời.
- Triệt ngăn chặn, Tuần làm chậm và làm mờ.
Nên cùng một cung, gặp Triệt là "bị chặn rồi thông", gặp Tuần là "cứ lấn cấn mãi".
3. Tác dụng lên sao
- Sao tốt và miếu vượng gặp Tuần Triệt: uổng. Cái quý bị giảm, phát muộn, hoặc phát rồi mất.
- Sao xấu và hãm địa gặp Tuần Triệt: mừng. Đây là ý "Triệt cứu hung tinh". Mệnh xấu mà có Triệt đóng nhiều khi lại yên.
- Sao hãm mà là sát tinh đắc dụng (Kình Đà đắc địa): gặp Tuần Triệt thì mất luôn cái dụng, không hay.
Câu người xưa hay dùng: "Đắc Tuần Triệt bất luận cát hung." Nghĩa là gặp Tuần Triệt thì đừng vội kết luận tốt xấu, phải xem lại từ đầu.
4. Tuần Triệt tại các cung
- Tại Mệnh: đời hay đổi hướng, tuổi trẻ vất vả, thành đạt muộn. Người có Triệt tại Mệnh thường "làm lại" ít nhất một lần. Không phải xấu, nhiều người thành công lớn có Triệt.
- Tại Phu Thê: hôn nhân trắc trở, muộn, hoặc có giai đoạn xa cách.
- Tại Tài Bạch: tiền vào ra thất thường, khó giữ, hoặc phát muộn.
- Tại Tử Tức: con muộn, ít con, hoặc con xa.
- Tại Quan Lộc: nghề nghiệp đổi, gián đoạn.
- Tại Tật Ách: thường là tốt, giảm bệnh tật.
- Tại Thiên Di: ra ngoài lận đận, nhưng cũng giải được hung ở ngoài.
5. Tuần Triệt và đại hạn
Đại hạn đi vào cung có Tuần hoặc Triệt: 10 năm ấy là giai đoạn "chuyển tiếp". Việc lớn khó thành trọn, nhưng tai họa lớn cũng khó xảy ra. Nhiều người dùng đúng 10 năm này để học, để chuẩn bị, rồi phát ở hạn sau. Đó là cách dùng khôn ngoan.
6. Chỗ còn tranh luận
- Tuần Triệt có chắn cả cung xung chiếu không? Có phái nói chắn cung nào chỉ cung ấy chịu. Có phái nói cung đối diện cũng bị ảnh hưởng một phần.
- Triệt có "cứu" được cả cung hay chỉ cứu từng sao?
- Tuần Triệt đồng cung (cả hai cùng án một cung): có người nói cực xấu, có người nói triệt tiêu lẫn nhau nên hóa bình thường.
- Mốc thời gian: Triệt mạnh đến 30 tuổi là con số ước lệ, có sách nói 25, có sách nói theo đại hạn.
Tôi nghiêng về cách: Tuần Triệt chỉ tác động lên cung nó án, ảnh hưởng sang xung chiếu thì có nhưng nhẹ. Còn lại tùy anh chị em nghiệm.
7. Lời cuối
Người mới hay sợ Tuần Triệt như sợ sát tinh. Nên nhớ: Tuần Triệt không giết ai cả. Nó chỉ làm chậm, làm mờ, làm phải đi đường vòng. Rất nhiều lá số hay đều có Tuần Triệt ở đâu đó. Cái nó lấy đi là sự dễ dàng, cái nó cho là thời gian để chuẩn bị.
Ai theo phái khác về Tuần Triệt, mời viết bài phản biện, tôi ghim lên cạnh bài này.
|
|
|
| Tìm thầy: dấu hiệu của người dạy tử tế và của người nên tránh |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 18:29 - Chuyên mục: Tìm thầy và Học thuật
- Chưa có trả lời
|
 |
Câu hỏi "học ở đâu, học ai" là câu hỏi thường gặp nhất của người mới. Tôi không giới thiệu ai cụ thể, nhưng xin đưa ra bộ tiêu chí để bác tự đánh giá.
1. Dấu hiệu của người dạy tử tế
- Bắt học nền trước: bắt thuộc can chi, bắt an sao bằng tay, không cho dùng phần mềm sớm. Người dạy dễ dãi ở khâu này thường không có gì để dạy tiếp.
- Nói rõ mình theo phái nào, và thừa nhận có phái khác nghĩ khác.
- Dám nói "cái này tôi chưa chắc". Đây là dấu hiệu đáng tin nhất.
- Khuyến khích học trò nghiệm lý và phản biện, không bắt tin.
- Không dọa học trò và không dọa người đến xem.
- Minh bạch về tiền: nếu có thu học phí thì nói rõ từ đầu, bao nhiêu buổi, nội dung gì. Thu học phí dạy học là chính đáng, không có gì phải giấu.
2. Dấu hiệu nên tránh
- Nhận là truyền nhân bí truyền, có sách gia truyền không ai được xem, không nói rõ học từ ai.
- Khoe đoán trúng nhiều ca nhưng không bao giờ kể ca đoán sai. Ai xem số cũng có ca sai, người không kể là người giấu.
- Dạy vài buổi là "xem được cho người khác". Không có chuyện đó.
- Vừa dạy vừa bán vật phẩm, vừa nhận giải hạn, cắt duyên, làm lễ.
- Đòi học phí lớn trả một lần cho "cả khóa cao cấp", hoặc dựng cấp bậc đệ tử, thu tiền theo cấp.
- Cấm học trò học thêm nơi khác, cấm đọc sách khác.
- Nói xấu các thầy khác, các phái khác, coi phái mình là duy nhất đúng.
- Xem số xong phán chuyện chết chóc, bệnh nan y, tai nạn, rồi gợi ý cách hóa giải có thu tiền. Đây là dấu hiệu rõ nhất của lừa đảo.
3. Học một mình có được không
Được, và nhiều người giỏi đi lên từ tự học. Cần ba thứ:
- Một bộ sách nền và kiên trì đọc theo thứ tự, không nhảy cóc.
- Một quyển sổ ghi chép: mỗi lá số, mỗi quẻ, mỗi lần luận, và kết quả thật về sau.
- Một chỗ để hỏi và bị phản biện. Diễn đàn này lập ra để làm việc đó.
Cái tự học thiếu so với có thầy là sự sửa sai kịp thời. Người tự học dễ đi lạc vài năm mà không biết. Nên có chỗ để người khác soi giúp là quan trọng nhất.
4. Quy tắc của mục này
- Cấm quảng cáo dịch vụ thu tiền, cấm để lại số điện thoại, cấm mời chào khóa học. Vi phạm là khóa tài khoản.
- Được hỏi kinh nghiệm học, được chia sẻ bác học môn gì bằng cách nào, mất bao lâu.
- Được lập nhóm học chung, cùng đọc một cuốn sách, cùng nghiệm lý. Việc này tôi khuyến khích.
- Nếu bác muốn giới thiệu một người thầy, xin nhắn riêng cho người hỏi, đừng đăng công khai. Diễn đàn không đứng ra bảo đảm cho ai.
|
|
|
| Kêu gọi góp tư liệu: các cụ, các sách và các diễn đàn đã mất |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 18:14 - Chuyên mục: Tư liệu và Tiểu sử
- Chưa có trả lời
|
 |
Đây là mục tôi tha thiết nhất, và cũng là lý do lớn nhất để lập diễn đàn này.
1. Vì sao gấp
Thế hệ các cụ viết sách Tử Vi tiếng Việt những năm 1950 đến 1970 gần như đã đi hết. Học trò trực tiếp của các cụ nay cũng đã già. Sách in trước 1975 mục dần, bản photo mờ dần. Các diễn đàn lý số đời đầu thì nơi đóng cửa, nơi mất tên miền, mang theo hàng nghìn bài viết mà không ai kịp lưu.
Mỗi năm trôi qua là mất thêm một mảng. Không ai làm việc lưu giữ này thay chúng ta.
2. Cần gì
Về người: - Tiểu sử, năm sinh năm mất, quê quán của các cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang, Thiên Lương, Nguyễn Phát Lộc, Hà Lạc Dã Phu, Song An Đỗ Văn Lưu và các vị khác.
- Ảnh chân dung, bút tích, chữ ký.
- Chuyện kể của người từng gặp, từng học.
- Các thầy ở địa phương, không nổi tiếng nhưng có thực học. Loại tư liệu này mất nhanh nhất vì không ai chép.
Về sách:- Ảnh bìa, trang lót, mục lục, năm in, nhà in của các sách lý số cũ.
- Bản chép tay, gia phả có ghi lá số, sổ ghi chép của các cụ.
- So sánh các lần tái bản: chỗ nào sửa, chỗ nào thêm bớt.
Về diễn đàn cũ:- Ảnh chụp màn hình, bài viết đã lưu, tên các thành viên có đóng góp lớn.
- Bản lưu trên các trang lưu trữ web, nếu bác nào biết cách tìm.
- Chuyện về sinh hoạt của các diễn đàn ấy: các cuộc tranh luận lớn, các đợt offline, các nhóm nghiên cứu.
3. Cách đăng
- Mỗi nhân vật hoặc mỗi cuốn sách một topic riêng, tiêu đề ghi rõ tên.
- Ghi rõ nguồn: bác tự chụp, hay lấy ở đâu, nghe ai kể.
- Phân biệt rõ điều chắc chắn và điều nghe nói. Tư liệu sai còn tệ hơn không có tư liệu.
- Về bản quyền: xin đăng bìa, mục lục, trích đoạn ngắn và thư mục. Không đăng nguyên cuốn sách còn bản quyền. Sách đã quá cũ hoặc tác giả đã mất lâu thì ta bàn từng trường hợp.
- Nếu tư liệu liên quan tới người còn sống hoặc gia đình họ, xin hỏi ý kiến trước.
4. Tôi sẽ làm gì
Tôi sẽ gom các topic trong mục này thành một mục lục ghim ở đầu, cập nhật dần. Khi đủ nhiều, ta tính chuyện làm một bản lưu trữ tải về được, để dù diễn đàn này có ngày cũng biến mất như các diễn đàn trước, thì thứ chúng ta gom vẫn còn.
Bác nào có gì, dù chỉ một tấm ảnh bìa sách cũ, xin cứ đăng. Nhỏ mấy cũng quý.
|
|
|
| Khuôn khổ của mục Tâm linh: kể được gì và không kể gì |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 17:59 - Chuyên mục: Tâm linh và Chuyện có thật
- Chưa có trả lời
|
 |
Mục này dễ đông người nhất và cũng dễ hỏng nhất. Mọi diễn đàn lý số đời trước đều có một mục như thế này, và phần lớn đều có lúc phải đóng lại. Nên tôi đặt khuôn khổ ngay từ bài đầu.
1. Được kể
- Trải nghiệm cá nhân của chính bác: giấc mơ báo trước, linh cảm, trùng hợp lạ, cảm giác ở một nơi nào đó.
- Chuyện dân gian, truyền thuyết địa phương, tục lệ thờ cúng ở quê bác. Đây là tư liệu văn hóa quý.
- Chuyện nghiệm lý: một lá số, một quẻ ứng vào việc thật một cách kỳ lạ.
- Bàn về ranh giới giữa hiện tượng tâm lý và hiện tượng tâm linh. Bóng đè, ảo giác nửa thức nửa ngủ, hiệu ứng trí nhớ, đều là những thứ có giải thích khoa học và cũng nên được nhắc tới.
Xin kể ở ngôi thứ nhất, chuyện mình biết trực tiếp. Chuyện "nghe kể lại" qua ba bốn người thì xin ghi rõ là nghe kể.
2. Không đăng
- Bùa ngải, ngải nghệ, thư ếm: cách làm, cách giải, chỗ mua, người làm. Cấm tuyệt đối.
- Cầu cơ, gọi hồn, áp vong: hướng dẫn cách làm. Cấm tuyệt đối.
- Chữa bệnh bằng tâm linh, khuyên người khác bỏ thuốc, bỏ điều trị. Cấm tuyệt đối, khóa tài khoản ngay.
- Giới thiệu thầy cúng, thầy bùa, dịch vụ giải hạn, cắt tiền duyên, mở cung tài lộc. Đây gần như luôn là lừa đảo.
- Chuyện dọa người: kể để gieo sợ hãi, kèm theo "ai không tin thì sẽ gặp chuyện".
- Quy kết bệnh tật, tai nạn, phá sản của một người cụ thể cho nguyên nhân tâm linh.
3. Vì sao nghiêm như vậy
Không phải vì tôi không tin có những chuyện chưa giải thích được. Tôi tin là có, và tôi cũng có vài chuyện của riêng mình.
Nhưng tôi đã thấy đủ nhiều trường hợp: người mất tiền vì "giải hạn", người bỏ điều trị ung thư để đi cắt tiền duyên, gia đình tan nát vì một lời phán về mồ mả, người trẻ hoảng loạn vì đọc phải một bài dọa nạt trên mạng lúc nửa đêm. Những cái đó là hại thật, xảy ra thật, và bắt đầu từ những mục "chuyện tâm linh" như thế này.
Một diễn đàn lý số tử tế phải là nơi người ta bớt sợ đi, chứ không phải nơi làm người ta sợ thêm.
4. Một đề nghị
Khi kể chuyện, xin thêm một câu ở cuối: bác nghĩ chuyện đó là gì. Có thể là "tôi tin đó là điềm", có thể là "giờ nghĩ lại chắc tôi mệt quá nên tưởng tượng". Cả hai câu trả lời đều đáng quý như nhau, và cái thói quen tự đặt câu hỏi ấy chính là thứ phân biệt người học lý số với người mê tín.
|
|
|
| Ba dòng tư tưởng và dấu vết của chúng trong lý số |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 17:44 - Chuyên mục: Đạo giáo, Lão Trang và Nho học
- Chưa có trả lời
|
 |
Người học lý số lâu năm rồi sẽ đến lúc hỏi: rốt cuộc cái mình đang làm dựa trên nền tư tưởng nào? Bài này phác qua ba dòng lớn và chỗ chúng để lại dấu trong các môn ta học.
1. Nho
Cốt lõi là trật tự và bổn phận: quân thần, phụ tử, phu phụ, trên dưới có ngôi, mỗi người làm tròn vai của mình. Đề cao học, đề cao tu thân, tin rằng người quân tử biết mệnh trời nhưng vẫn phải gắng hết sức.
Dấu vết trong lý số: rất đậm. Tử Vi mô tả xã hội bằng ngôn ngữ triều đình, có vua (Tử Vi), có tể tướng (Thiên Tướng), có tướng quân (Thất Sát), có kho (Thiên Phủ). Cách cục "Quân thần khánh hội" là lý tưởng Nho gia thu nhỏ. Cách đánh giá một lá số theo tiêu chuẩn công danh, gia đình yên ổn cũng là tiêu chuẩn Nho.
Câu của Khổng Tử thường được người học số dẫn: không biết mệnh thì không thành người quân tử. Nhưng chính ông cũng nói rất ít về quỷ thần và số mệnh, mà nhấn vào việc làm người cho phải.
2. Đạo và Lão Trang
Cốt lõi là thuận tự nhiên: vô vi, không cưỡng cầu, biết đủ, biết dừng. Lão Tử nói về cái mềm thắng cái cứng, cái trống mới dùng được. Trang Tử đi xa hơn, cười vào mọi thứ trói buộc kể cả sống chết.
Dấu vết trong lý số: cũng rất đậm nhưng theo hướng khác. Toàn bộ hệ âm dương ngũ hành, tư tưởng "cực thịnh tất suy", "vật cùng tắc biến" là từ đây. Đạo giáo về sau phát triển thành hệ thống phù chú, luyện đan, và chính dòng này sinh ra phần lớn các môn thuật số, trong đó có Kỳ Môn và các phép trạch cát.
Đóng góp lớn nhất của Lão Trang cho người học số, theo tôi, là thái độ: biết mà không bám. Biết trước thời tiết để mang áo, chứ không phải để sợ trời.
3. Phật
Đã có bài riêng bên mục Phật học, ở đây chỉ nói phần liên quan: khái niệm nghiệp và nhân quả cho lý số một chiều sâu đạo đức mà Nho và Đạo không có sẵn. Câu "đức năng thắng số" quen thuộc trong Tử Vi Việt Nam thực chất mang màu Phật giáo rất rõ.
4. Ở Việt Nam ba dòng hòa vào nhau
Đây là điểm đặc sắc. Người Việt xưa gọi là Tam giáo đồng nguyên: một ông đồ có thể sáng dạy Luận Ngữ, chiều xem Tử Vi, tối tụng kinh Phật, mà không thấy mâu thuẫn. Chùa làng có tượng Phật, có ban thờ Mẫu, ngoài sân có ông thầy đồ ngồi viết chữ.
Cho nên Tử Vi Việt Nam mang cả ba: cấu trúc Nho, nguyên lý Đạo, và tinh thần Phật. Ai học Tử Vi Việt mà chỉ hiểu một dòng thì đọc phú sẽ thấy nhiều chỗ khó hiểu.
5. Khuôn khổ mục này
Được bàn: kinh điển, tư tưởng, ảnh hưởng lên lý số, lịch sử tam giáo ở Việt Nam.
Không đăng: tranh luận hơn thua giữa các tôn giáo, chê bai tín ngưỡng của người khác, chuyện chính trị tôn giáo.
Ai đọc sách nào hay trong ba dòng này, giới thiệu bên dưới.
|
|
|
| Dưỡng sinh theo mùa và mấy điều đơn giản mà bền |
|
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 17:29 - Chuyên mục: Dưỡng sinh, Khí công và Thiền
- Chưa có trả lời
|
 |
Mục này bàn về khí công, thiền, dưỡng sinh. Bài mở đầu tôi nói về cái đơn giản nhất: sống theo mùa.
1. Nguyên tắc bốn mùa
Y học cổ truyền coi con người là một phần của trời đất, nên nhịp sống nên theo nhịp mùa.
- Xuân (Mộc, tạng Can): mùa sinh phát. Nên ngủ muộn hơn chút, dậy sớm, đi bộ thư thái, để tinh thần thoải mái, tránh giận dữ. Giận hại Can, mà mùa xuân Can đang vượng.
- Hạ (Hỏa, tạng Tâm): mùa trưởng thành. Dậy sớm, hoạt động, ra mồ hôi vừa phải, đừng ức chế cảm xúc. Tránh tham lạnh quá mức, uống đá liên tục hại Tỳ Vị.
- Trưởng hạ (Thổ, tạng Tỳ): giai đoạn cuối hạ ẩm nóng. Giữ tiêu hóa, ăn đồ dễ tiêu, tránh ẩm thấp.
- Thu (Kim, tạng Phế): mùa thu liễm. Ngủ sớm dậy sớm, giữ ẩm cho phổi và da, tránh buồn bã kéo dài. Không khí khô thì uống đủ nước.
- Đông (Thủy, tạng Thận): mùa tàng trữ. Ngủ sớm dậy muộn hơn, giữ ấm nhất là vùng lưng và bàn chân, tiết chế tiêu hao, không tập luyện đổ mồ hôi đầm đìa ngoài trời lạnh.
Tóm lại một câu: xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm.
2. Ba việc đơn giản mà bền
Tôi bỏ qua các phương pháp cầu kỳ, chỉ nói ba thứ ai cũng làm được:
Thở. Ngồi thẳng, thở bằng bụng, hít vào bụng phồng, thở ra bụng xẹp, thở ra dài hơn hít vào. Mười phút mỗi ngày. Đây là nền của mọi môn khí công, và tự nó đã đủ có ích.
Đi bộ. Đi đều, thở đều, không nghe gì, không nghĩ việc. Ba mươi phút. Người xưa gọi là tán bộ, coi là phép dưỡng sinh bậc nhất vì ai cũng làm được đến già.
Ngủ đúng giờ. Trong y lý cổ, giờ Tý (23 giờ đến 1 giờ) là lúc khí quy về Đởm, giờ Sửu (1 đến 3 giờ) về Can. Ngủ trước 23 giờ là điều duy nhất trong bài này mà tôi dám nói là quan trọng hơn tất cả những thứ còn lại cộng lại.
3. Thiền
Nhiều bác trong diễn đàn có tuổi và có duyên với thiền. Xin chia sẻ kinh nghiệm ở đây, nhưng theo mấy nguyên tắc:
- Không hướng dẫn các pháp môn dễ gây rối loạn cho người tự tập một mình.
- Ai đang có bệnh tâm thần, rối loạn lo âu nặng, xin tập dưới hướng dẫn của người có chuyên môn, không tự tập theo bài trên mạng.
- Không bàn chuyện "khai mở luân xa", "nhìn thấy hào quang", "chữa bệnh từ xa". Những chuyện đó không thuộc mục này.
4. Nhắc lại điều đã nói ở mục Y học cổ truyền
Dưỡng sinh là để giữ, không phải để chữa. Có bệnh thì đi khám. Khí công không thay thuốc, thiền không thay bác sĩ. Ai đăng bài khuyên bỏ thuốc để tập luyện thì tôi xóa ngay và khóa tài khoản, đây là điều tôi làm nghiêm nhất trong diễn đàn.
|
|
|
|