Đánh giá chủ đề:
  • 0 lượt đánh giá - trung bình 0
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên: cách tính và cách đọc vận
#1
Lá số nói về "bản chất". Hạn nói về "thời điểm". Biết bản chất mà không biết thời điểm thì chỉ nói được người ta là ai, không nói được khi nào.

1. Đại hạn (10 năm một cung)

Cách tính: Đại hạn đầu tiên nằm ở cung Mệnh, bắt đầu từ tuổi bằng số cục:
  • Thủy nhị cục: 2 – 11 tuổi
  • Mộc tam cục: 3 – 12 tuổi
  • Kim tứ cục: 4 – 13 tuổi
  • Thổ ngũ cục: 5 – 14 tuổi
  • Hỏa lục cục: 6 – 15 tuổi

Sau đó mỗi 10 năm sang cung kế. Dương nam, âm nữ đi thuận (Mệnh sang Phụ Mẫu sang Phúc Đức...). Âm nam, dương nữ đi nghịch (Mệnh sang Huynh Đệ sang Phu Thê...).

Ví dụ: dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh tại Tý. Đại hạn: Tý 2-11, Sửu 12-21, Dần 22-31, Mão 32-41, Thìn 42-51, Tỵ 52-61, Ngọ 62-71...

Tuổi ở đây là tuổi âm (tuổi mụ, sinh ra đã là 1 tuổi). Trước tuổi bắt đầu đại hạn thứ nhất, người ta xem theo cung Mệnh và Phụ Mẫu (thời thơ ấu phụ thuộc cha mẹ).

2. Tiểu hạn (1 năm một cung)

Tiểu hạn khởi theo chi năm sinh, tính tuổi 1 tại cung khởi:
  • Tuổi Dần, Ngọ, Tuất: khởi tại Thìn
  • Tuổi Thân, Tý, Thìn: khởi tại Tuất
  • Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: khởi tại Mùi
  • Tuổi Hợi, Mão, Mùi: khởi tại Sửu

Nam đi thuận, nữ đi nghịch (không phân âm dương). Mỗi tuổi một cung. Tuổi 13 quay lại cung khởi.

Ví dụ: nam tuổi Tý, khởi Tuất là 1 tuổi. 2 tuổi Hợi, 3 Tý... 13 tuổi Tuất lại, 25 Tuất, 37 Tuất. Muốn tìm tiểu hạn tuổi 30: 30 chia 12 dư 6, tuổi 6 ở đâu (Tuất 1, Hợi 2, Tý 3, Sửu 4, Dần 5, Mão 6), vậy 30 tuổi tiểu hạn tại Mão.

3. Lưu niên

Năm đang xem là năm gì thì cung mang chi năm đó là cung lưu niên. Năm Bính Ngọ thì cung Ngọ. Ngoài ra an thêm các sao lưu theo can chi năm ấy: lưu Thái Tuế (vòng Thái Tuế lưu), lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà, lưu Tứ Hóa, lưu Thiên Mã, lưu Tang Hổ. Người mới chỉ cần lưu Tứ Hóa và lưu Kình Đà là đủ.

4. Cách đọc một năm

Đây là chỗ Tử Vi Việt Nam có lối riêng. Thứ tự tôi làm:

  1. Xem đại hạn đang ở cung nào, chính tinh ra sao, có Tuần Triệt không. Đại hạn là "mùa". Mùa đông thì việc gì cũng chậm.
  2. Xem tiểu hạn năm đó ở cung nào, sao gì. Tiểu hạn là "thời tiết trong mùa".
  3. Xem cung lưu niên và Tứ Hóa lưu. Đây là "sự kiện cụ thể".
  4. Ba cung đại hạn, tiểu hạn, lưu niên nếu cùng tốt thì năm đó chắc chắn tốt. Nếu mâu thuẫn thì tốt xấu lẫn lộn, nhìn xem cái nào mạnh hơn.
  5. Đặc biệt chú ý khi tiểu hạn hoặc lưu niên rơi vào cung có Hóa Kỵ gốc, hoặc cung xung chiếu Thái Tuế gốc (Tuế Phá). Những năm đó thường có biến.

5. Vài quy luật thực tế đã nghiệm
  • Đại hạn đi vào cung có Thái Tuế gốc: 10 năm được làm chủ, nhưng phải gánh trách nhiệm.
  • Đại hạn vào cung Tuần hoặc Triệt: 10 năm "dọn dẹp", chuyển tiếp, ít khi phát mạnh nhưng cũng khó chết.
  • Đại hạn gặp Sát Phá Tham hãm cộng sát tinh: thay đổi lớn, nghề nghiệp, chỗ ở, hôn nhân.
  • Tiểu hạn trùng cung với đại hạn: năm bản lề, chuyện gì trong đại hạn chưa xảy ra thì xảy ra năm này.
  • Tuổi 12, 24, 36, 48, 60 (tiểu hạn về cung khởi): những năm hay có mốc.

Người mới đừng vội xem hạn cho người lạ. Hãy xem cho chính mình, ghi lại từng năm xem đúng sai thế nào. Vài năm sau đọc lại là hiểu Tử Vi hơn đọc trăm cuốn sách.
Số là thật, và số đổi được.
Trả lời


Chuyển nhanh:


Đang xem chủ đề này: 1 khách