06-09-2026, 03:19
Tứ Trụ (còn gọi Bát Tự, Tử Bình) là môn "anh em" với Tử Vi nhưng lối đi khác hẳn. Tử Vi an sao rồi đọc sao, Tứ Trụ chỉ dùng tám chữ can chi và cân đo ngũ hành. Người học Tử Vi nên biết Tứ Trụ để đối chiếu.
1. Bốn trụ
Năm, tháng, ngày, giờ sinh, mỗi trụ một cặp can chi. Ví dụ sinh năm Giáp Tý, tháng Quý Dậu, ngày Bính Ngọ, giờ Kỷ Hợi thì Tứ Trụ là:
Can ngày (ở đây là Bính) gọi là Nhật chủ, đại diện cho bản thân. Mọi thứ khác đều xét trong quan hệ với Nhật chủ.
2. Thập thần
Từ Nhật chủ, mỗi can khác được đặt tên theo quan hệ ngũ hành và âm dương:
Ví dụ Nhật chủ Bính (Hỏa dương): Giáp (Mộc dương) sinh Hỏa, cùng dương, là Thiên Ấn. Quý (Thủy âm) khắc Hỏa, khác âm dương, là Chính Quan. Kỷ (Thổ âm) được Hỏa sinh, khác âm dương, là Thương Quan.
3. Lệnh tháng
Chi tháng là "mùa" của Nhật chủ. Nhật chủ Hỏa sinh tháng mùa hè (Tỵ Ngọ) là được lệnh, vượng. Sinh tháng mùa đông (Hợi Tý) là thất lệnh, suy. Đây là yếu tố quan trọng nhất để định vượng suy, sau đó mới xét các can chi khác sinh trợ hay khắc tiết.
4. Vượng suy và dụng thần
Cân xong thì kết luận Nhật chủ thân vượng hay thân nhược.
Dụng thần là hành mà mệnh cần. Vận đến mang hành đó là tốt, mang hành khắc dụng thần là xấu. Tư tưởng cốt lõi của Tứ Trụ chỉ có vậy, còn lại là kỹ thuật cân đo.
5. Đại vận
Từ trụ tháng, nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm đi thuận, ngược lại đi nghịch, mỗi vận 10 năm. Tuổi khởi vận tính theo số ngày từ ngày sinh đến tiết khí gần nhất, chia 3.
6. Khác biệt với Tử Vi, cần biết để không lẫn
Ai muốn đi sâu, sách nhập môn tiếng Việt dễ đọc nhất theo tôi là các bản dịch Tử Bình Chân Thuyên và Trích Thiên Tủy, nhưng phải đọc có người hướng dẫn.
1. Bốn trụ
Năm, tháng, ngày, giờ sinh, mỗi trụ một cặp can chi. Ví dụ sinh năm Giáp Tý, tháng Quý Dậu, ngày Bính Ngọ, giờ Kỷ Hợi thì Tứ Trụ là:
Mã:
Năm Tháng Ngày Giờ
Can: Giáp Quý Bính Kỷ
Chi: Tý Dậu Ngọ HợiCan ngày (ở đây là Bính) gọi là Nhật chủ, đại diện cho bản thân. Mọi thứ khác đều xét trong quan hệ với Nhật chủ.
2. Thập thần
Từ Nhật chủ, mỗi can khác được đặt tên theo quan hệ ngũ hành và âm dương:
- Cùng hành: Tỷ Kiên (cùng âm dương), Kiếp Tài (khác âm dương). Anh em, bạn bè, cạnh tranh.
- Ta sinh: Thực Thần (cùng), Thương Quan (khác). Tài năng, con cái, sự thể hiện.
- Ta khắc: Thiên Tài (cùng), Chính Tài (khác). Tiền bạc, vợ (nam mệnh).
- Khắc ta: Thất Sát (cùng), Chính Quan (khác). Quyền, sếp, áp lực, chồng (nữ mệnh).
- Sinh ta: Thiên Ấn (cùng), Chính Ấn (khác). Học vấn, mẹ, sự che chở.
Ví dụ Nhật chủ Bính (Hỏa dương): Giáp (Mộc dương) sinh Hỏa, cùng dương, là Thiên Ấn. Quý (Thủy âm) khắc Hỏa, khác âm dương, là Chính Quan. Kỷ (Thổ âm) được Hỏa sinh, khác âm dương, là Thương Quan.
3. Lệnh tháng
Chi tháng là "mùa" của Nhật chủ. Nhật chủ Hỏa sinh tháng mùa hè (Tỵ Ngọ) là được lệnh, vượng. Sinh tháng mùa đông (Hợi Tý) là thất lệnh, suy. Đây là yếu tố quan trọng nhất để định vượng suy, sau đó mới xét các can chi khác sinh trợ hay khắc tiết.
4. Vượng suy và dụng thần
Cân xong thì kết luận Nhật chủ thân vượng hay thân nhược.
- Thân vượng thì cần thứ tiết bớt: Thực Thương, Tài, Quan Sát. Những hành đó là dụng thần.
- Thân nhược thì cần thứ sinh trợ: Ấn, Tỷ Kiếp.
Dụng thần là hành mà mệnh cần. Vận đến mang hành đó là tốt, mang hành khắc dụng thần là xấu. Tư tưởng cốt lõi của Tứ Trụ chỉ có vậy, còn lại là kỹ thuật cân đo.
5. Đại vận
Từ trụ tháng, nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm đi thuận, ngược lại đi nghịch, mỗi vận 10 năm. Tuổi khởi vận tính theo số ngày từ ngày sinh đến tiết khí gần nhất, chia 3.
6. Khác biệt với Tử Vi, cần biết để không lẫn
- Tử Vi dùng tháng âm lịch. Tứ Trụ dùng tiết khí (tháng Dần bắt đầu từ Lập Xuân, không phải mùng 1 Tết).
- Tử Vi có giờ Tý chia đôi (sách Việt gọi "giờ Tý đầu ngày, giờ Tý cuối ngày"), Tứ Trụ cũng có tranh luận tương tự. Đây là chuyện dài, sẽ có bài riêng.
- Tứ Trụ không có "sao", chỉ có thần sát phụ trợ (Đào Hoa, Dịch Mã, Quý Nhân), vai trò nhỏ.
Ai muốn đi sâu, sách nhập môn tiếng Việt dễ đọc nhất theo tôi là các bản dịch Tử Bình Chân Thuyên và Trích Thiên Tủy, nhưng phải đọc có người hướng dẫn.
Số là thật, và số đổi được.
