Xin chào, Khách
Bạn cần đăng ký trước khi có thể đăng bài.

Tên đăng nhập
  

Mật khẩu
  





Tìm trong diễn đàn

(Tìm kiếm nâng cao)

Thống kê diễn đàn
» Thành viên: 1
» Thành viên mới nhất: Phủ Tướng Triều Viên
» Số chủ đề: 53
» Số bài viết: 53

Xem thống kê đầy đủ

Đang trực tuyến
Hiện có 4 người đang trực tuyến.
» 0 thành viên | 4 khách

Chủ đề mới nhất
Nữ mệnh trong sách cũ: nh...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 41
Mệnh Vô chính diệu: không...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 30
Cách cục kinh điển: nhận ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 34
Mười hai cung chức: đọc t...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 34
Tuần và Triệt: đặc sản củ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 37
Tìm thầy: dấu hiệu của ng...
Chuyên mục: Tìm thầy và Học thuật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 45
Kêu gọi góp tư liệu: các ...
Chuyên mục: Tư liệu và Tiểu sử
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 41
Khuôn khổ của mục Tâm lin...
Chuyên mục: Tâm linh và Chuyện có thật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 42
Ba dòng tư tưởng và dấu v...
Chuyên mục: Đạo giáo, Lão Trang và Nho học
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 36
Dưỡng sinh theo mùa và mấ...
Chuyên mục: Dưỡng sinh, Khí công và Thiền
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 37

 
  Cách tính Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ và chuyện giờ Tý đầu ngày
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 07:04 - Chuyên mục: Thiên văn cổ và Lịch pháp - Chưa có trả lời

Không biết tính can chi bằng tay thì lệ thuộc phần mềm, mà phần mềm sai thì không biết. Bài này để ai cũng tự tính được.

1. Can chi năm

Lấy năm dương lịch chia 10, số dư tra can: 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ.
Chia 12, số dư tra chi: 0 Thân, 1 Dậu, 2 Tuất, 3 Hợi, 4 Tý, 5 Sửu, 6 Dần, 7 Mão, 8 Thìn, 9 Tỵ, 10 Ngọ, 11 Mùi.

Ví dụ 2026: chia 10 dư 6 là Bính, chia 12 dư 10 là Ngọ. Năm Bính Ngọ.

Lưu ý: năm âm lịch bắt đầu từ Tết, còn năm tiết khí (dùng cho Tứ Trụ, Phong Thủy) bắt đầu từ Lập Xuân (khoảng 4 tháng 2). Sinh tháng Giêng dương lịch phải tính là năm trước.

2. Can chi tháng

Chi tháng cố định: tháng Giêng là Dần, tháng 2 Mão, tháng 3 Thìn, tháng 4 Tỵ, tháng 5 Ngọ, tháng 6 Mùi, tháng 7 Thân, tháng 8 Dậu, tháng 9 Tuất, tháng 10 Hợi, tháng 11 Tý, tháng Chạp Sửu.

Can tháng theo Ngũ hổ độn, tra từ can năm để biết can tháng Giêng:

Mã:
Năm Giáp, Kỷ : tháng Giêng là Bính Dần Năm Ất, Canh : tháng Giêng là Mậu Dần Năm Bính, Tân : tháng Giêng là Canh Dần Năm Đinh, Nhâm : tháng Giêng là Nhâm Dần Năm Mậu, Quý : tháng Giêng là Giáp Dần

Rồi đếm tiếp. Năm Bính Ngọ, tháng Giêng Canh Dần, tháng 2 Tân Mão, tháng 3 Nhâm Thìn, tháng 8 Đinh Dậu.

3. Can chi ngày

Cái này không có quy tắc đơn giản, phải tính từ một mốc. Mốc dễ nhớ: ngày 1 tháng 1 năm 1900 dương lịch là ngày Giáp Tuất. Đếm số ngày từ mốc đến ngày cần tính, chia 60 lấy dư, tra bảng lục thập hoa giáp. Tính tay lâu nên người xưa dùng lịch vạn niên. Ngày nay có thể nhớ can chi của mùng 1 dương lịch mỗi tháng rồi đếm tới.

Cách kiểm tra phần mềm: tra một ngày trên hai nguồn khác nhau, khớp nhau thì tin.

4. Can chi giờ

Chi giờ cố định theo 12 khung 2 tiếng: Tý 23–1, Sửu 1–3, Dần 3–5, Mão 5–7, Thìn 7–9, Tỵ 9–11, Ngọ 11–13, Mùi 13–15, Thân 15–17, Dậu 17–19, Tuất 19–21, Hợi 21–23.

Can giờ theo Ngũ thử độn, tra từ can ngày để biết can giờ Tý:

Mã:
Ngày Giáp, Kỷ : giờ Tý là Giáp Tý Ngày Ất, Canh : giờ Tý là Bính Tý Ngày Bính, Tân : giờ Tý là Mậu Tý Ngày Đinh, Nhâm : giờ Tý là Canh Tý Ngày Mậu, Quý : giờ Tý là Nhâm Tý

5. Chuyện giờ Tý đầu ngày

Giờ Tý kéo dài từ 23 giờ đêm hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau, vắt qua nửa đêm. Vậy sinh lúc 23 giờ 30 tính là ngày nào?
  • Thuyết một: ngày đổi lúc nửa đêm 0 giờ (theo ngày dương lịch). Sinh 23 giờ 30 ngày 15 là giờ Tý ngày 15, gọi là "giờ Tý cuối ngày" hay "dạ Tý".
  • Thuyết hai: ngày đổi lúc bắt đầu giờ Tý, 23 giờ. Sinh 23 giờ 30 ngày 15 tính là giờ Tý ngày 16.

Tử Vi Việt Nam đa số dùng thuyết hai (23 giờ sang ngày mới), Tứ Trụ nhiều người dùng thuyết một. Không có kết luận chung. Cách làm thực tế: an hai lá số, đối chiếu sự kiện đã qua, giữ lá số đúng.

6. Múi giờ

Việt Nam dùng giờ GMT+7, nhưng kinh tuyến qua Hà Nội khoảng 105 độ 51 phút, giờ mặt trời thật lệch giờ đồng hồ khoảng 3 đến 4 phút, không đáng kể. Nhưng người sinh ở miền Nam trước 1975 có giai đoạn dùng GMT+8, sinh lúc 12 giờ đồng hồ thực ra là 11 giờ. Sinh ở nước ngoài thì phải đổi về giờ địa phương nơi sinh, không đổi về giờ Việt Nam. Điểm này nhiều thầy bỏ qua, xem sai cả lá số.

Ai có bảng thời gian đổi múi giờ Việt Nam qua các thời kỳ xin bổ sung, tôi ghim lên đầu bài.

In bài này

  Ngũ hành và tạng phủ: cái cầu nối giữa mệnh lý và y lý
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 06:39 - Chuyên mục: Y học cổ truyền - Chưa có trả lời

Người học Tử Vi thường xem cung Tật Ách rồi bí, vì không biết sao Hỏa thì bệnh gì, sao Thủy thì bệnh gì. Cái cầu nối là ngũ hành tạng phủ của Đông y. Bài này viết phần nền, không dạy chữa bệnh.

1. Bảng ngũ hành tạng phủ

Mã:
Hành Tạng Phủ Khiếu Thể Chí Mùa Vị Sắc Mộc Can Đởm Mắt Gân Giận Xuân Chua Xanh Hỏa Tâm Tiểu trường Lưỡi Mạch Mừng Hạ Đắng Đỏ Thổ Tỳ Vị Miệng Cơ nhục Lo Trưởng hạ Ngọt Vàng Kim Phế Đại trường Mũi Da lông Buồn Thu Cay Trắng Thủy Thận Bàng quang Tai Xương Sợ Đông Mặn Đen

Tạng là cơ quan đặc (gan, tim, lá lách, phổi, thận), thuộc âm, chứa tinh khí. Phủ là cơ quan rỗng (mật, ruột non, dạ dày, ruột già, bàng quang), thuộc dương, chuyển hóa. Mỗi tạng ứng một phủ, một giác quan, một loại mô, một cảm xúc.

Lưu ý: "Can", "Tâm", "Thận" của Đông y là hệ thống chức năng, không phải đúng lá gan, quả tim, quả thận giải phẫu. Thận của Đông y bao gồm cả sinh dục, nội tiết, xương, tai, tóc.

2. Sinh khắc trong cơ thể
  • Tương sinh: Mộc sinh Hỏa (Can nuôi Tâm), Hỏa sinh Thổ (Tâm ấm Tỳ), Thổ sinh Kim (Tỳ nuôi Phế), Kim sinh Thủy (Phế dưỡng Thận), Thủy sinh Mộc (Thận dưỡng Can).
  • Tương khắc: Mộc khắc Thổ (Can khí uất thì hại Tỳ, giận thì đau dạ dày), Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Khắc trong mức độ là điều hòa. Khắc quá mức là bệnh, gọi là tương thừa. Bị khắc ngược lại gọi là tương vũ.

3. Nối sang mệnh lý

Khi xem cung Tật Ách hoặc Tứ Trụ, người ta đối chiếu hành của sao hay của can chi với bảng trên:
  • Hành Mộc bị khắc hay quá vượng: gan mật, mắt, gân, dễ cáu.
  • Hành Hỏa: tim mạch, huyết áp, lưỡi, mất ngủ, dễ bồn chồn.
  • Hành Thổ: tiêu hóa, dạ dày, lá lách, hay lo nghĩ, cơ bắp yếu.
  • Hành Kim: phổi, hô hấp, da, mũi, đại tràng, hay buồn.
  • Hành Thủy: thận, tiết niệu, xương khớp, tai, sinh dục, hay sợ.

Ví dụ trong Tử Vi: Mệnh có Liêm Trinh (Hỏa) Hóa Kỵ, Tật Ách có Hỏa Tinh, người này nên để ý tim mạch và huyết áp. Cung Tật Ách có Thái Âm (Thủy) hãm cộng Đà La, để ý thận, phụ khoa, mắt.

4. Dùng bảng này để sống, không phải để sợ

Bảng ngũ hành cũng cho biết cách dưỡng: hành nào yếu thì ăn vị của hành sinh nó, giữ cảm xúc tương ứng, sống theo mùa. Mộc yếu thì ngủ sớm, bớt giận. Thổ yếu thì ăn ấm, bớt lo. Thủy yếu thì giữ ấm lưng, bớt sợ hãi. Đó mới là chỗ Đông y và mệnh lý gặp nhau: biết mình yếu chỗ nào để giữ, chứ không phải biết mình sẽ bệnh gì để lo.

Bệnh thật thì đi khám. Diễn đàn không thay bác sĩ.

In bài này

  Chiêm tinh Tây phương nhìn từ người học Tử Vi: giống gì, khác gì
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 06:14 - Chuyên mục: Chiêm tinh học - Chưa có trả lời

Nhiều bạn trẻ đến với Tử Vi từ chiêm tinh Tây phương (astrology). Nhiều bác lớn tuổi lại coi thường "cung hoàng đạo". Cả hai đều nên đọc bài này.

1. Chiêm tinh Tây phương dùng gì

Dùng vị trí thật của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh trên bầu trời tại thời điểm sinh, tính theo thiên văn, chiếu lên vòng hoàng đạo 12 cung (Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử...). Rồi chia bầu trời làm 12 nhà (house) dựa vào giờ và nơi sinh. Hành tinh nằm cung nào, nhà nào, tạo góc gì với hành tinh khác (hợp, đối, vuông, tam hợp, lục hợp) là nội dung của lá số.

Cái mà báo chí gọi là "cung hoàng đạo của bạn" chỉ là vị trí Mặt Trời, một trong hơn chục yếu tố. Chiêm tinh nghiêm túc không bao giờ luận bằng một cung.

2. Giống Tử Vi ở đâu

  • Cùng dùng năm tháng ngày giờ sinh và cùng cần giờ sinh chính xác. Sai giờ là sai cung Mọc (Ascendant), tương đương sai cung Mệnh.
  • Cùng chia 12 khu vực đời người. Nhà 1 là bản thân (Mệnh), nhà 2 tiền bạc (Tài Bạch), nhà 4 gia đình (Điền Trạch, Phụ Mẫu), nhà 7 hôn nhân (Phu Thê), nhà 10 sự nghiệp (Quan Lộc). Ai học một bên thì đọc bên kia rất nhanh.
  • Cùng có khái niệm sao "đắc địa" (domicile, exaltation) và "hãm địa" (detriment, fall).
  • Cùng có kỹ thuật xem vận: Tử Vi có đại hạn tiểu hạn, chiêm tinh có transit, progression, solar return.

3. Khác Tử Vi ở đâu
  • Chiêm tinh dùng thiên văn thật. Tử Vi dùng sao ảo an theo số học. Vì thế chiêm tinh cần phần mềm hoặc bảng thiên văn, Tử Vi an tay được.
  • Chiêm tinh có góc chiếu (aspect) tinh vi, Tử Vi chỉ có tam hợp, xung chiếu, nhị hợp, giáp cung.
  • Tử Vi có Tuần Triệt, Tứ Hóa, cách cục, là những thứ chiêm tinh không có. Chiêm tinh có các hành tinh ngoài Sao Thổ (Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương) và các điểm ảo (Nút Mặt Trăng, Lilith, Chiron) mà Tử Vi không có.
  • Chiêm tinh Tây phương hiện đại thiên về tâm lý, nói "khuynh hướng" hơn nói "số phận". Tử Vi cổ điển thiên về sự kiện. Nhưng chiêm tinh cổ điển (Hy Lạp, Ả Rập, thời Trung cổ) cũng đoán sự kiện rất cụ thể, gần với Tử Vi hơn.

4. Học cả hai được không

Được, và nên. Hai hệ thống độc lập cùng chỉ về một điều thì độ tin cậy tăng. Nhưng đừng "dịch" sao bên này sang bên kia. Thái Dương không phải Mặt Trời, Thái Âm không phải Mặt Trăng, dù cùng tên. Học mỗi bên bằng ngôn ngữ của nó.

5. Bắt đầu từ đâu

Đọc The Only Way to Learn Astrology (March và McEvers), hoặc bản tiếng Việt của Liz Greene. Dùng phần mềm lập lá số miễn phí có sẵn trên mạng, nhập giờ sinh, xem cung Mọc, Mặt Trời, Mặt Trăng trước. Người biết Tử Vi thì so ba thứ đó với Mệnh, Thân và Thái Dương Thái Âm của mình, sẽ thấy thú vị.

Mục này mở cho cả hai phía. Mời các bạn học chiêm tinh vào viết bài, các bác học Tử Vi vào hỏi.

In bài này

  Nhân tướng học: Tam đình, Ngũ nhạc và bốn điều nhìn trước khi nhìn nét mặt
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 05:49 - Chuyên mục: Nhân tướng học - Chưa có trả lời

Nhân tướng học là môn cổ nhất và cũng bị hiểu sai nhiều nhất. Người ta tưởng nó là "mũi to thì giàu". Không phải. Nhân tướng là nhìn cái tổng thể đang sống, không phải đo từng bộ phận.

1. Bốn điều nhìn trước

Sách xưa dạy: Nhất thanh, nhị thần, tam hình, tứ sắc.

  1. Thanh (giọng nói): trầm ấm, rõ, có lực là quý. The thé, đứt quãng, hụt hơi là kém. Giọng khó đổi, nên đặt đầu tiên.
  2. Thần (ánh mắt, khí chất): mắt có "thần" là sáng mà không lộ, nhìn người khác thấy yên tâm. Mắt lộ, đảo, đục là xấu. Thần là thứ quyết định, tướng tốt mà thần suy thì không dùng được.
  3. Hình (khung xương, dáng người): xương cốt cân đối, đi đứng vững, ngồi không rung. Hình là "vốn" trời cho.
  4. Sắc (màu da, sắc khí): hồng hào, sáng, đều là tốt. Xám, xanh, đen từng vùng là bệnh hoặc vận xấu đang tới. Sắc đổi theo tuần, theo tháng, nên xem vận gần thì xem sắc.

2. Tam đình

Chia mặt làm ba phần:
  • Thượng đình: từ chân tóc đến giữa hai lông mày. Chủ tuổi trẻ (đến khoảng 30), cha mẹ, trí tuệ, học vấn.
  • Trung đình: từ lông mày đến chóp mũi. Chủ trung niên (30 đến 50), sự nghiệp, tài lộc, ý chí.
  • Hạ đình: từ dưới mũi đến cằm. Chủ về già, con cái, nhà cửa, phúc hậu.

Tam đình cân đối là quý nhất. Đình nào ngắn, lép, lệch thì giai đoạn ấy vất vả. Trán cao rộng mà cằm lẹm: trẻ thông minh, già cô độc. Trán thấp mà cằm đầy: trẻ khổ, già sướng.

3. Ngũ nhạc

Năm "ngọn núi" trên mặt: trán (Nam nhạc), cằm (Bắc nhạc), gò má trái (Đông nhạc), gò má phải (Tây nhạc), mũi (Trung nhạc). Nguyên tắc: Trung nhạc phải có bốn nhạc chầu về. Mũi cao mà gò má lép, trán cằm lùi là "cô phong vô viện", núi lẻ không ai phò, tự làm tự chịu. Gò má cao mà mũi thấp là "tứ nhạc bức trung", quần thần lấn vua, làm chủ khó.

4. Vài nét thường hỏi
  • Lông mày: chủ anh em, tính khí. Mày thanh dài quá mắt là quý. Mày rậm dựng, mày đứt là nóng, khắc anh em.
  • Mắt: chủ tâm. Mắt dài, đuôi mắt kín, tròng đen nhiều là hiền và bền. Mắt tam bạch (lộ lòng trắng trên hoặc dưới) là tính quyết liệt, dễ có chuyện.
  • Mũi: chủ tài, chủ sự nghiệp trung niên. Sống thẳng, đầu mũi đầy, cánh mũi kín là giữ được tiền. Mũi hếch lộ lỗ là tiền vào tiền ra.
  • Miệng: chủ phúc lộc về già, chủ lời nói. Khóe miệng hướng lên là lạc quan, hướng xuống là bi quan. Môi dày là tình cảm, môi mỏng là lý trí.
  • Tai: chủ tuổi thơ và thọ. Tai dày, có vành, dái tai đầy là phúc. Tai mỏng vểnh là tuổi thơ vất vả.

5. Ba nguyên tắc tránh xem sai

  1. Không nhìn một nét mà kết luận. Mũi tốt nhưng mắt xấu thì tiền có mà không giữ được.
  2. Nhìn động: người ta cười thế nào, nói thế nào, nhìn mình thế nào, quan trọng hơn ảnh chân dung.
  3. Tướng tùy tâm sinh. Tướng xấu mà tâm tốt mười năm thì tướng đổi. Sách xưa nhấn mạnh điều này hơn mọi bảng tra.

Sách: Ma Y Thần Tướng, Liễu Trang Tướng Pháp, và bản tiếng Việt dễ đọc là Nhân Tướng Học của Hy Trương. Ai có ảnh sách cũ xin đăng lên mục Thư viện.

In bài này

  Chọn ngày: Nhị thập bát tú, Thập nhị trực và cách tra lịch vạn niên
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 05:24 - Chuyên mục: Trạch nhật - Chưa có trả lời

Trạch nhật là chọn ngày giờ cho việc quan trọng: cưới hỏi, động thổ, nhập trạch, khai trương, an táng. Người xưa coi trọng hơn cả xem tuổi. Bài này giới thiệu hai hệ thống phổ biến nhất trong lịch vạn niên.

1. Nhị thập bát tú (28 sao)

28 chòm sao trên đường Hoàng đạo, mỗi ngày một sao, quay vòng. Chia bốn phương, mỗi phương bảy sao:

Mã:
Đông (Thanh Long): Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ Bắc (Huyền Vũ) : Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích Tây (Bạch Hổ) : Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm Nam (Chu Tước) : Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn

Mỗi sao có tính tốt xấu cho từng loại việc, có thơ để nhớ. Ví dụ sao Giác tốt cho cưới hỏi, xây dựng, xấu cho an táng. Sao Cang xấu cho cưới hỏi. Sao Phòng, Vĩ, Cơ, Đẩu, Thất, Bích, Lâu, Vị, Tất, Sâm, Tỉnh, Trương, Chẩn là các sao thường được coi là tốt. Sao Cang, Đê, Tâm, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Khuê, Mão, Chủy, Quỷ, Liễu, Tinh, Dực thường xấu hoặc xấu cho một số việc. Bảng chi tiết dài, tôi sẽ đăng trong topic riêng.

Nhị thập bát tú còn liên hệ với thứ trong tuần: Giác ứng thứ Năm (Mộc), Cang thứ Sáu (Kim), Đê thứ Bảy (Thổ), Phòng Chủ nhật (Nhật)... nên biết sao là biết thứ.

2. Thập nhị trực (12 trực)

Mỗi ngày mang một trực, đi theo tháng tiết khí. Tháng Dần thì ngày Dần là Kiến, rồi tuần tự:

Mã:
Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế

Ý nghĩa và việc hợp:
  • Kiến: khởi đầu. Tốt cho xuất hành, nhậm chức. Kỵ động thổ.
  • Trừ: trừ bỏ. Tốt cho chữa bệnh, dọn dẹp, cúng giải.
  • Mãn: đầy đủ. Tốt cho cầu tài, cưới hỏi. Kỵ nhậm chức.
  • Bình: bằng phẳng. Việc gì cũng vừa phải.
  • Định: ổn định. Tốt cho cưới hỏi, ký kết, nhập học.
  • Chấp: nắm giữ. Tốt cho xây dựng, bắt trộm. Kỵ xuất hành.
  • Phá: phá vỡ. Xấu cho mọi việc, chỉ tốt phá dỡ.
  • Nguy: nguy hiểm. Kỵ mọi việc, nhưng có sách nói tốt cho an táng.
  • Thành: thành tựu. Tốt cho hầu hết việc.
  • Thu: thu hoạch. Tốt cho cất giữ, nhập kho. Kỵ mở đầu.
  • Khai: mở. Tốt cho khai trương, cưới hỏi, xây dựng. Kỵ an táng.
  • Bế: đóng. Kỵ mọi việc mở đầu, tốt cho đắp đê, lấp hố.

Người ta hay tóm gọn: Kiến, Mãn, Bình, Thu: hắc đạo. Trừ, Nguy, Định, Chấp: hoàng đạo. Thành, Khai đều dùng được. Bế, Phá không nên làm. (Câu này là quy tắc gọn, có ngoại lệ.)

3. Cách tra một ngày

  1. Xem ngày đó xung tuổi gia chủ không (chi ngày xung chi tuổi, ví dụ Tý xung Ngọ). Xung thì bỏ.
  2. Xem trực có hợp việc không.
  3. Xem sao nhị thập bát tú có hợp việc không.
  4. Xem ngày hoàng đạo hay hắc đạo (theo vòng Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Thiên Đức, Ngọc Đường, Tư Mệnh là hoàng đạo).
  5. Tránh các ngày đại kỵ: Tam Nương (3, 7, 13, 18, 22, 27 âm), Nguyệt Kỵ (5, 14, 23), Dương Công Kỵ Nhật.
  6. Còn lại vài ngày thì chọn giờ hoàng đạo trong ngày.

Ngày đủ tốt là hiếm. Nguyên tắc: không phạm điều xấu lớn quan trọng hơn được điều tốt nhỏ. Nhiều thầy chọn ngày chỉ cần "không xung tuổi, không Tam Nương, trực Thành hoặc Khai" là đủ.

4. Thứ tự ưu tiên

Kỳ Môn và Trạch Cát chuyên sâu còn xét năm, tháng, hướng động thổ, tuổi người đứng ra. Nhưng với đời thường, tra lịch vạn niên kỹ là ổn. Đừng mua "ngày đẹp" giá cao.

In bài này

  Nhập môn Phong Thủy: Loan Đầu, Lý Khí và Bát Trạch cơ bản
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 04:59 - Chuyên mục: Lý thuyết Phong Thuỷ - Chưa có trả lời

Phong Thủy bây giờ bị thương mại hóa nặng nhất trong các môn. Bài này để anh chị em phân biệt cái gì là phong thủy, cái gì là bán hàng.

1. Hai nhánh lớn

  • Loan Đầu: nhìn hình thế. Núi, sông, đường, nhà xung quanh, hình dáng đất. Nguyên tắc "tọa sơn hướng thủy", "tàng phong tụ khí". Loan Đầu là gốc, không có Loan Đầu tốt thì Lý Khí không cứu được.
  • Lý Khí: tính toán bằng la bàn và số. Gồm nhiều phái: Bát Trạch, Huyền Không Phi Tinh, Tam Hợp, Huyền Không Đại Quái, Dương Công... Các phái này cãi nhau cả trăm năm.

Người mới học Loan Đầu trước, vì nó là lẽ thường: nhà cần thoáng, sáng, không bị đường đâm thẳng, không ở cuối dốc, không kẹp giữa hai nhà cao. Đó là phong thủy, và cũng là kiến trúc.

2. Bát Trạch, phái dễ vào nhất

Bát Trạch chia người thành hai nhóm theo năm sinh và giới tính: Đông tứ mệnh (Khảm, Ly, Chấn, Tốn) và Tây tứ mệnh (Càn, Khôn, Cấn, Đoài). Nhà cũng chia Đông tứ trạch, Tây tứ trạch theo hướng tọa. Mệnh nào hợp trạch đó.

Cách tính quái mệnh (cung phi) cho người sinh sau năm 2000:
  • Nam: lấy 9 trừ (tổng các chữ số năm sinh, cộng đến khi còn một chữ số). Ra 5 thì tính Khôn.
  • Nữ: lấy (tổng các chữ số năm sinh, rút gọn) cộng 6, rút gọn. Ra 5 thì tính Cấn.
Người sinh trước 2000: nam lấy 10 trừ, nữ cộng 5. Số ra đối chiếu: 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly.

Lưu ý năm sinh tính theo Lập Xuân, không theo Tết.

3. Tám hướng theo mệnh

Mỗi quái mệnh có bốn hướng tốt (Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị) và bốn hướng xấu (Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát, Họa Hại). Bát Trạch dùng để xếp cửa chính, bếp, giường, bàn làm việc: cửa và giường ở hướng tốt, bếp "tọa hung hướng cát" (đặt ở hướng xấu, miệng bếp quay về hướng tốt).

4. Huyền Không Phi Tinh, phái đang thịnh

Lấy thời gian xây nhà (vận, mỗi vận 20 năm) và hướng tọa (đo la bàn chính xác đến độ) để bay chín sao vào chín cung của ngôi nhà. Sao 8, 9, 1 đang vượng ở thời này, sao 2, 5 xấu. Phái này giải thích được vì sao cùng một nhà, thời này tốt thời khác xấu. Nhưng cần la bàn tốt, đo chuẩn, và hiểu vận. Người mới học Bát Trạch xong mới sang Huyền Không.

5. Những thứ không phải phong thủy
  • Bán "vật phẩm hóa giải" giá vài triệu: tỳ hưu, thiềm thừ, đá, tranh. Không sách cổ nào nói vật này hóa giải sao kia.
  • "Hướng nhà hợp tuổi" tính bằng năm sinh mà không đo la bàn, không nhìn hình thế.
  • Xem phong thủy qua ảnh chụp, qua điện thoại.
  • Thầy nào nói "nhà này không sửa thì chết" là thầy dọa để lấy tiền.

Sách: Bát Trạch Minh Kính và Thẩm Thị Huyền Không Học (bản dịch). Đọc Bát Trạch trước.

In bài này

  Lục Hào nhập môn: gieo quẻ đồng xu, an Lục thân, Thế Ứng, Dụng thần
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 04:34 - Chuyên mục: Lục Hào - Chưa có trả lời

Lục Hào (còn gọi Bốc Phệ, Văn Vương Quái) là phép bói quẻ chi tiết nhất trong các phép dùng Kinh Dịch. Mỗi hào được gán một can chi, một lục thân, một lục thú, rồi đối chiếu với ngày tháng gieo. Học Lục Hào là học một hệ thống hoàn chỉnh, mất vài năm, nhưng chính xác đáng kinh ngạc với câu hỏi cụ thể.

1. Gieo quẻ

Dùng ba đồng xu giống nhau. Quy ước một mặt là dương (mặt chữ, gọi là "chữ"), một mặt là âm (mặt hoa, gọi là "hoa"). Gieo sáu lần, lần đầu là hào sơ (dưới cùng), lần sáu là hào thượng.

  • Một chữ hai hoa: hào dương tĩnh (vạch liền).
  • Hai chữ một hoa: hào âm tĩnh (vạch đứt).
  • Ba chữ: hào dương động (lão dương), ghi thêm vòng tròn, sẽ biến thành âm.
  • Ba hoa: hào âm động (lão âm), ghi thêm dấu chéo, sẽ biến thành dương.

Trước khi gieo phải nêu rõ câu hỏi, ghi ngày tháng gieo theo can chi. Thiếu ngày tháng thì không luận được.

2. Nạp Giáp: gán can chi cho hào

Mỗi quẻ đơn có sáu địa chi cố định cho sáu hào (ba hào khi làm nội quái, ba hào khi làm ngoại quái). Bảng nạp Giáp:

Mã:
Quẻ Nội quái (hào 1,2,3) Ngoại quái (hào 4,5,6) Càn Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất Khảm Dần Thìn Ngọ Thân Tuất Tý Cấn Thìn Ngọ Thân Tuất Tý Dần Chấn Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất Tốn Sửu Hợi Dậu Mùi Tỵ Mão Ly Mão Sửu Hợi Dậu Mùi Tỵ Khôn Mùi Tỵ Mão Sửu Hợi Dậu Đoài Tỵ Mão Sửu Hợi Dậu Mùi

Quẻ dương (Càn Khảm Cấn Chấn) đi thuận, quẻ âm (Tốn Ly Khôn Đoài) đi nghịch.

3. An Lục thân

Mỗi quẻ kép thuộc một trong tám "cung" (Càn cung, Khảm cung...) và cung đó có hành riêng. Lấy hành của cung so với hành của địa chi từng hào:
  • Cùng hành: Huynh Đệ
  • Cung sinh hào: Tử Tôn
  • Cung khắc hào: Thê Tài
  • Hào khắc cung: Quan Quỷ
  • Hào sinh cung: Phụ Mẫu

4. Thế và Ứng

Trong mỗi quẻ có một hào là Thế (mình) và một hào là Ứng (đối phương, hoàn cảnh), cách nhau ba hào. Vị trí Thế tùy quẻ thuộc đời thứ mấy trong cung (quẻ gốc Thế ở hào 6, quẻ đời 1 Thế ở hào 1, đời 2 hào 2... quẻ Du hồn hào 4, Quy hồn hào 3). Có bảng tra sẵn, học thuộc dần.

5. Dụng thần

Hỏi việc gì thì lấy lục thân tương ứng làm Dụng thần:
  • Hỏi cha mẹ, nhà cửa, giấy tờ, xe cộ, thi cử: Phụ Mẫu
  • Hỏi công việc, chức vụ, bệnh tật, tai họa, chồng (nữ hỏi): Quan Quỷ
  • Hỏi tiền bạc, vợ (nam hỏi), hàng hóa: Thê Tài
  • Hỏi con cái, thuốc men, gia súc, việc giải nạn: Tử Tôn
  • Hỏi anh em, bạn bè, đối thủ cạnh tranh: Huynh Đệ

Rồi xem Dụng thần vượng hay suy so với nguyệt kiến (chi tháng gieo) và nhật thần (chi ngày gieo), có bị hào động khắc không, có hóa tiến hay hóa thoái không. Dụng thần vượng, được sinh, không bị khắc thì việc thành. Dụng thần suy, bị khắc, bị "nhập mộ" thì việc không thành.

6. Lộ trình học

  1. Thuộc nạp Giáp 8 quẻ đơn và bảng 64 quẻ thuộc cung nào, Thế ở đâu.
  2. Thuộc cách an lục thân, lục thú (Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ theo can ngày).
  3. Học vượng suy: sinh vượng mộ tuyệt, nguyệt phá, nhật phá, không vong.
  4. Học hào động: hóa tiến, hóa thoái, hóa hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, phản ngâm, phục ngâm.
  5. Gieo và ghi chép. Mỗi quẻ ghi câu hỏi, ngày gieo, luận, và kết quả thật. Một năm sau đọc lại.

Sách: Tăng San Bốc Dịch (Dã Hạc lão nhân) và Bốc Phệ Chính Tông. Hai cuốn này là kinh điển, bản dịch tiếng Việt có, đọc kỹ từng câu.

In bài này

  Mai Hoa Dịch Số: lập quẻ theo năm tháng ngày giờ và phép Thể Dụng
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 04:09 - Chuyên mục: Mai Hoa Dịch Số - Chưa có trả lời

Mai Hoa là phép bói quẻ nhanh, gán cho Thiệu Khang Tiết đời Tống. Không cần đồng xu, không cần cỏ thi. Có giờ là có quẻ. Người xưa nhìn hoa mai rụng, nghe tiếng chim kêu cũng lập được quẻ.

1. Lập quẻ theo thời gian (phép phổ biến nhất)

Quy ước số: Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tỵ 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12. Tháng và ngày dùng số âm lịch.

  1. Thượng quái = (số năm + số tháng + số ngày) chia 8, lấy số dư. Dư 0 tính là 8.
  2. Hạ quái = (số năm + số tháng + số ngày + số giờ) chia 8, lấy số dư. Dư 0 là 8.
  3. Hào động = (tổng cả bốn số) chia 6, lấy số dư. Dư 0 là 6.

Số quẻ theo Tiên thiên: 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn.

Ví dụ: năm Tý (1), tháng 8, ngày 16, giờ Dậu (10).
Thượng: 1+8+16 = 25, chia 8 dư 1, quẻ Càn.
Hạ: 25+10 = 35, chia 8 dư 3, quẻ Ly.
Hào động: 35 chia 6 dư 5, hào 5 động.
Quẻ chính: Thiên Hỏa Đồng Nhân (Càn trên Ly dưới), hào 5 động.

2. Quẻ biến, quẻ hỗ
  • Quẻ biến: đổi hào động (dương thành âm, âm thành dương). Hào 5 của Càn (dương) thành âm, Càn thành Ly. Quẻ biến là Hỏa Hỏa, tức Ly vi Hỏa.
  • Quẻ hỗ: lấy hào 2, 3, 4 làm hạ quái, hào 3, 4, 5 làm thượng quái của quẻ chính. Quẻ hỗ cho biết "diễn biến giữa chừng".

3. Thể và Dụng

Đây là linh hồn của Mai Hoa.
  • Quẻ đơn không có hào động là Thể, đại diện cho mình, cho việc hỏi.
  • Quẻ đơn có hào động là Dụng, đại diện cho hoàn cảnh, đối phương, sự việc bên ngoài.

Trong ví dụ, hào 5 nằm ở thượng quái Càn, nên Càn là Dụng, Ly là Thể.

Luận theo ngũ hành:
  • Dụng sinh Thể: tốt, được giúp.
  • Thể sinh Dụng: hao, mình phải bỏ sức bỏ của.
  • Dụng khắc Thể: xấu, bị cản.
  • Thể khắc Dụng: được, mình thắng nhưng vất vả.
  • Thể Dụng cùng hành (tỷ hòa): thuận, việc suôn.

Ví dụ: Thể Ly (Hỏa), Dụng Càn (Kim). Hỏa khắc Kim, Thể khắc Dụng. Việc thành nhưng phải tốn công. Quẻ biến Ly cùng hành với Thể, về sau thuận. Quẻ hỗ của Thiên Hỏa Đồng Nhân là Thiên Phong Cấu (Càn trên Tốn dưới): Tốn Mộc sinh Ly Hỏa, giữa chừng có người giúp.

Rồi thêm lời quẻ Đồng Nhân: "đồng nhân vu dã, hanh", hòa hợp với người ở nơi rộng thì thông. Kết luận: việc hỏi nên làm cùng người khác, đừng làm một mình, ban đầu tốn sức, giữa chừng có quý nhân, cuối cùng thành.

4. Vài lưu ý
  • Một việc chỉ gieo một quẻ. Không thích kết quả gieo lại là tự dối mình.
  • Mai Hoa chuộng ngoại ứng: lúc lập quẻ nghe gì thấy gì cũng là điềm. Đây là phần khó truyền, phải tự nghiệm.
  • Mai Hoa nhanh nhưng thô. Việc lớn, việc phức tạp nên dùng Lục Hào.

Sách: Mai Hoa Dịch Số bản dịch tiếng Việt có nhiều, chọn bản có nguyên văn chữ Hán đối chiếu.

In bài này

  Nhập môn Kinh Dịch: Âm Dương, Bát Quái, 64 quẻ và cách đọc một quẻ
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 03:44 - Chuyên mục: Kinh Dịch nguyên lý - Chưa có trả lời

Kinh Dịch là gốc của mọi môn trong diễn đàn này. Tử Vi, Phong Thủy, Tứ Trụ đều mượn ngôn ngữ âm dương ngũ hành từ Dịch mà ra. Bài này không dạy bói, chỉ dạy đọc.

1. Hào

Đơn vị nhỏ nhất. Hào dương là vạch liền, hào âm là vạch đứt. Chỉ có hai ký hiệu, nhưng chồng lên nhau tạo ra tất cả.

Mã:
Hào dương: ——————— Hào âm : ——— ———

2. Bát Quái (8 quẻ đơn, 3 hào)

Mã:
Càn ☰ trời cha Kim hướng Tây Bắc Đoài ☱ đầm con gái út Kim Tây Ly ☲ lửa con gái giữa Hỏa Nam Chấn ☳ sấm con trai cả Mộc Đông Tốn ☴ gió con gái cả Mộc Đông Nam Khảm ☵ nước con trai giữa Thủy Bắc Cấn ☶ núi con trai út Thổ Đông Bắc Khôn ☷ đất mẹ Thổ Tây Nam

Hướng ở trên là theo Hậu thiên Bát Quái (Văn Vương), dùng trong Phong Thủy. Còn Tiên thiên Bát Quái (Phục Hy) xếp khác, dùng trong Mai Hoa và triết lý.

Câu ca để nhớ hình: Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn. (Càn ba vạch liền, Khôn sáu đoạn, Chấn như cái bát ngửa, Cấn như cái bát úp, Ly rỗng giữa, Khảm đầy giữa, Đoài khuyết trên, Tốn đứt dưới.)

3. 64 quẻ kép (6 hào)

Hai quẻ đơn chồng lên nhau: quẻ dưới gọi là nội quái, quẻ trên gọi là ngoại quái. 8 x 8 = 64 quẻ. Mỗi quẻ có tên, có Thoán từ (lời quẻ) và sáu Hào từ (lời từng hào). Hào đếm từ dưới lên: sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng. Hào dương gọi là Cửu, hào âm gọi là Lục, nên "Cửu ngũ" là hào thứ năm dương, vị trí của vua.

4. Đọc một quẻ như thế nào

Lấy quẻ Địa Thiên Thái làm ví dụ: Khôn trên, Càn dưới.
  • Tượng: đất ở trên, trời ở dưới. Nghe ngược, nhưng khí trời đi lên, khí đất đi xuống, hai bên gặp nhau, giao hòa. Nên Thái là thông suốt, yên ổn.
  • Thoán từ: "Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh." Cái nhỏ đi, cái lớn đến, tốt, thông.
  • Hào: mỗi hào là một giai đoạn của việc. Hào sơ là mới bắt đầu, hào thượng là đã đến cùng cực. Trong Thái, hào thượng nói "thành phục vu hoàng" (thành đổ xuống hào), nghĩa là thịnh cực thì suy. Đó là cách Dịch dạy: quẻ tốt cũng có chỗ xấu, quẻ xấu cũng có chỗ tốt.

Quẻ ngược lại là Thiên Địa Bĩ: trời trên đất dưới, trông thuận mà khí không giao, nên bế tắc. Dịch nhìn động, không nhìn tĩnh.

5. Ba nguyên tắc Dịch dạy, dùng cả đời

  1. Biến dịch: mọi thứ đều đổi. Không có quẻ nào đứng yên.
  2. Bất dịch: quy luật đổi thì không đổi. Cực thịnh sinh suy, cực suy sinh thịnh.
  3. Giản dịch: quy luật đó rất đơn giản, chỉ là âm dương tiêu trưởng.

6. Sách nên đọc

Bản dịch Kinh Dịch của cụ Ngô Tất Tố (đầy đủ, khó), Kinh Dịch đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê (dễ vào nhất), và Chu Dịch của Phan Bội Châu (nặng triết lý). Người mới đọc Nguyễn Hiến Lê trước.

Mục Mai Hoa và Lục Hào sẽ nói về cách lập quẻ để bói. Ở đây chỉ đọc quẻ thôi.

In bài này

  Nhập môn Tứ Trụ: Can Chi, lệnh tháng, vượng suy và dụng thần
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 03:19 - Chuyên mục: Lý thuyết Tứ Trụ - Chưa có trả lời

Tứ Trụ (còn gọi Bát Tự, Tử Bình) là môn "anh em" với Tử Vi nhưng lối đi khác hẳn. Tử Vi an sao rồi đọc sao, Tứ Trụ chỉ dùng tám chữ can chi và cân đo ngũ hành. Người học Tử Vi nên biết Tứ Trụ để đối chiếu.

1. Bốn trụ

Năm, tháng, ngày, giờ sinh, mỗi trụ một cặp can chi. Ví dụ sinh năm Giáp Tý, tháng Quý Dậu, ngày Bính Ngọ, giờ Kỷ Hợi thì Tứ Trụ là:

Mã:
Năm Tháng Ngày Giờ Can: Giáp Quý Bính Kỷ Chi: Tý Dậu Ngọ Hợi

Can ngày (ở đây là Bính) gọi là Nhật chủ, đại diện cho bản thân. Mọi thứ khác đều xét trong quan hệ với Nhật chủ.

2. Thập thần

Từ Nhật chủ, mỗi can khác được đặt tên theo quan hệ ngũ hành và âm dương:
  • Cùng hành: Tỷ Kiên (cùng âm dương), Kiếp Tài (khác âm dương). Anh em, bạn bè, cạnh tranh.
  • Ta sinh: Thực Thần (cùng), Thương Quan (khác). Tài năng, con cái, sự thể hiện.
  • Ta khắc: Thiên Tài (cùng), Chính Tài (khác). Tiền bạc, vợ (nam mệnh).
  • Khắc ta: Thất Sát (cùng), Chính Quan (khác). Quyền, sếp, áp lực, chồng (nữ mệnh).
  • Sinh ta: Thiên Ấn (cùng), Chính Ấn (khác). Học vấn, mẹ, sự che chở.

Ví dụ Nhật chủ Bính (Hỏa dương): Giáp (Mộc dương) sinh Hỏa, cùng dương, là Thiên Ấn. Quý (Thủy âm) khắc Hỏa, khác âm dương, là Chính Quan. Kỷ (Thổ âm) được Hỏa sinh, khác âm dương, là Thương Quan.

3. Lệnh tháng

Chi tháng là "mùa" của Nhật chủ. Nhật chủ Hỏa sinh tháng mùa hè (Tỵ Ngọ) là được lệnh, vượng. Sinh tháng mùa đông (Hợi Tý) là thất lệnh, suy. Đây là yếu tố quan trọng nhất để định vượng suy, sau đó mới xét các can chi khác sinh trợ hay khắc tiết.

4. Vượng suy và dụng thần

Cân xong thì kết luận Nhật chủ thân vượng hay thân nhược.
  • Thân vượng thì cần thứ tiết bớt: Thực Thương, Tài, Quan Sát. Những hành đó là dụng thần.
  • Thân nhược thì cần thứ sinh trợ: Ấn, Tỷ Kiếp.

Dụng thần là hành mà mệnh cần. Vận đến mang hành đó là tốt, mang hành khắc dụng thần là xấu. Tư tưởng cốt lõi của Tứ Trụ chỉ có vậy, còn lại là kỹ thuật cân đo.

5. Đại vận

Từ trụ tháng, nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm đi thuận, ngược lại đi nghịch, mỗi vận 10 năm. Tuổi khởi vận tính theo số ngày từ ngày sinh đến tiết khí gần nhất, chia 3.

6. Khác biệt với Tử Vi, cần biết để không lẫn
  • Tử Vi dùng tháng âm lịch. Tứ Trụ dùng tiết khí (tháng Dần bắt đầu từ Lập Xuân, không phải mùng 1 Tết).
  • Tử Vi có giờ Tý chia đôi (sách Việt gọi "giờ Tý đầu ngày, giờ Tý cuối ngày"), Tứ Trụ cũng có tranh luận tương tự. Đây là chuyện dài, sẽ có bài riêng.
  • Tứ Trụ không có "sao", chỉ có thần sát phụ trợ (Đào Hoa, Dịch Mã, Quý Nhân), vai trò nhỏ.

Ai muốn đi sâu, sách nhập môn tiếng Việt dễ đọc nhất theo tôi là các bản dịch Tử Bình Chân Thuyên và Trích Thiên Tủy, nhưng phải đọc có người hướng dẫn.

In bài này