Xin chào, Khách
Bạn cần đăng ký trước khi có thể đăng bài.

Tên đăng nhập
  

Mật khẩu
  





Tìm trong diễn đàn

(Tìm kiếm nâng cao)

Thống kê diễn đàn
» Thành viên: 1
» Thành viên mới nhất: Phủ Tướng Triều Viên
» Số chủ đề: 53
» Số bài viết: 53

Xem thống kê đầy đủ

Đang trực tuyến
Hiện có 4 người đang trực tuyến.
» 0 thành viên | 4 khách

Chủ đề mới nhất
Nữ mệnh trong sách cũ: nh...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 41
Mệnh Vô chính diệu: không...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 30
Cách cục kinh điển: nhận ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 34
Mười hai cung chức: đọc t...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 19:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 34
Tuần và Triệt: đặc sản củ...
Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 37
Tìm thầy: dấu hiệu của ng...
Chuyên mục: Tìm thầy và Học thuật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 45
Kêu gọi góp tư liệu: các ...
Chuyên mục: Tư liệu và Tiểu sử
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 18:14
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 41
Khuôn khổ của mục Tâm lin...
Chuyên mục: Tâm linh và Chuyện có thật
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:59
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 41
Ba dòng tư tưởng và dấu v...
Chuyên mục: Đạo giáo, Lão Trang và Nho học
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:44
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 35
Dưỡng sinh theo mùa và mấ...
Chuyên mục: Dưỡng sinh, Khí công và Thiền
Bài cuối: Phủ Tướng Triều Viên
06-09-2026, 17:29
» Trả lời: 0
» Lượt xem: 37

 
  Phép an sao (3): Vòng Thái Tuế, Lộc Tồn, Trường Sinh, Tuần Triệt và Tứ Hóa
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 11:14 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi - Chưa có trả lời

Bài này dài. Đọc xong an được 90% lá số. Số sao lẻ tẻ còn lại (Thiên Mã, Hồng Loan, Đào Hoa, Thiên Hình, Thiên Riêu, Tam Thai, Bát Tọa...) tôi để một bài phụ lục sau, vì chúng chỉ là bảng tra.

Quy ước chung: Dương nam, âm nữ đi thuận. Âm nam, dương nữ đi nghịch. Năm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm.

1. Vòng Thái Tuế (12 sao, theo CHI năm sinh, luôn đi thuận)

Thái Tuế an tại cung mang chi năm sinh (tuổi Tý thì tại Tý). Rồi đếm thuận:

Mã:
Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù

Vòng này không phân nam nữ. Phái Thiên Lương coi vòng này là xương sống để luận: Mệnh nằm ở Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ (tam hợp Thái Tuế) là người có "lý", nằm ở Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn là người hay đi ngược đời.

2. Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La (theo CAN năm sinh)

Mã:
Can năm : Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Lộc Tồn : Dần Mão Tỵ Ngọ Tỵ Ngọ Thân Dậu Hợi Tý

Kình Dương an ở cung liền trước Lộc Tồn (thuận 1). Đà La an ở cung liền sau (nghịch 1). Lộc Tồn bị kẹp giữa hai sát tinh, người xưa gọi là "Dương Đà giáp Lộc".

3. Vòng Lộc Tồn, còn gọi vòng Bác Sĩ (12 sao, khởi tại Lộc Tồn)

Dương nam âm nữ thuận, âm nam dương nữ nghịch:

Mã:
Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỉ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ

4. Vòng Trường Sinh (12 sao, theo CỤC)

Trường Sinh khởi tại:
  • Thủy nhị cục và Thổ ngũ cục: Thân
  • Mộc tam cục: Hợi
  • Kim tứ cục: Tỵ
  • Hỏa lục cục: Dần

Dương nam âm nữ thuận, âm nam dương nữ nghịch:

Mã:
Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng

Lưu ý: sách Trung Hoa có nơi cho Thổ cục khởi ở Thân, có nơi ở Dần. Tử Vi Việt Nam thống nhất Thổ theo Thủy, khởi tại Thân.

5. Tuần (theo CAN CHI năm sinh)

Tìm năm sinh thuộc "tuần Giáp" nào trong lục thập hoa giáp, Tuần án ngữ hai cung trống của tuần đó:

Mã:
Tuần Giáp Tý (Giáp Tý đến Quý Dậu) : Tuần tại Tuất, Hợi Tuần Giáp Tuất (Giáp Tuất đến Quý Mùi): Tuần tại Thân, Dậu Tuần Giáp Thân (Giáp Thân đến Quý Tỵ) : Tuần tại Ngọ, Mùi Tuần Giáp Ngọ (Giáp Ngọ đến Quý Mão) : Tuần tại Thìn, Tỵ Tuần Giáp Thìn (Giáp Thìn đến Quý Sửu): Tuần tại Dần, Mão Tuần Giáp Dần (Giáp Dần đến Quý Hợi) : Tuần tại Tý, Sửu

Ví dụ: Giáp Tý thuộc tuần Giáp Tý, Tuần tại Tuất Hợi. Tuổi Kỷ Tỵ (Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ) cũng tuần Giáp Tý.

6. Triệt (theo CAN năm sinh)

Mã:
Giáp, Kỷ : Triệt tại Thân, Dậu Ất, Canh : Triệt tại Ngọ, Mùi Bính, Tân : Triệt tại Thìn, Tỵ Đinh, Nhâm : Triệt tại Dần, Mão Mậu, Quý : Triệt tại Tý, Sửu

Tuần và Triệt không bao giờ án ở Tuất Hợi cùng lúc với Triệt, vì Triệt không có ở Tuất Hợi. Đó là lý do người xưa nói tuổi có Mệnh ở Tuất Hợi ít bị Triệt.

7. Tứ Hóa (theo CAN năm sinh)

Mã:
Can | Hóa Lộc | Hóa Quyền | Hóa Khoa | Hóa Kỵ ------+------------+------------+------------+----------- Giáp | Liêm Trinh | Phá Quân | Vũ Khúc | Thái Dương Ất | Thiên Cơ | Thiên Lương| Tử Vi | Thái Âm Bính | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Văn Xương | Liêm Trinh Đinh | Thái Âm | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Cự Môn Mậu | Tham Lang | Thái Âm | Hữu Bật | Thiên Cơ Kỷ | Vũ Khúc | Tham Lang | Thiên Lương| Văn Khúc Canh | Thái Dương | Vũ Khúc | Thiên Đồng | Thái Âm Tân | Cự Môn | Thái Dương | Văn Khúc | Văn Xương Nhâm | Thiên Lương| Tử Vi | Tả Phụ | Vũ Khúc Quý | Phá Quân | Cự Môn | Thái Âm | Tham Lang

Bảng này là bảng thông dụng ở Việt Nam. Tuổi Canh và Nhâm các sách có dị bản (Canh: Khoa Thái Âm, Kỵ Thiên Đồng; Nhâm: Khoa Thiên Phủ). Chọn một bảng, dùng nhất quán, nghiệm lý rồi tự quyết.

8. Lục cát, lục sát còn lại
  • Tả Phụ: từ Thìn đếm thuận đến tháng sinh. Hữu Bật: từ Tuất đếm nghịch đến tháng sinh.
  • Văn Xương: từ Tuất đếm nghịch đến giờ sinh. Văn Khúc: từ Thìn đếm thuận đến giờ sinh.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt theo can năm: Giáp Mậu: Sửu/Mùi. Ất Kỷ: Tý/Thân. Bính Đinh: Hợi/Dậu. Canh Tân: Ngọ/Dần. Nhâm Quý: Mão/Tỵ.
  • Địa Kiếp: từ Hợi đếm thuận đến giờ sinh. Địa Không: từ Hợi đếm nghịch đến giờ sinh.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh: khởi theo chi năm rồi đếm đến giờ sinh (dương nam âm nữ thuận, ngược lại nghịch). Tuổi Dần Ngọ Tuất: Hỏa khởi Sửu, Linh khởi Mão. Thân Tý Thìn: Hỏa khởi Dần, Linh khởi Tuất. Tỵ Dậu Sửu: Hỏa khởi Mão, Linh khởi Tuất. Hợi Mão Mùi: Hỏa khởi Dậu, Linh khởi Tuất.

Đến đây lá số đã có xương sống. Các bác an thử cho mình, đăng ảnh lên, ai sai chỗ nào tôi chỉ.

In bài này

  Phép an sao (2): Tử Vi tinh hệ, Thiên Phủ tinh hệ và 14 chính tinh
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 10:49 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi - Chưa có trả lời

Tiếp bài trước. Đã có sao Tử Vi rồi thì 13 chính tinh còn lại an gần như tự động.

1. Tử Vi tinh hệ (6 sao, đi NGHỊCH)

Từ cung có Tử Vi, đếm nghịch (ngược kim đồng hồ):

Mã:
Tử Vi : cung gốc Thiên Cơ : lùi 1 cung (bỏ trống 1 cung) Thái Dương : lùi 3 cung Vũ Khúc : lùi 4 cung Thiên Đồng : lùi 5 cung (bỏ trống 2 cung) Liêm Trinh : lùi 8 cung

Câu thơ cổ để nhớ: "Tử Vi, Thiên Cơ nghịch hành bàng; cách nhất Dương, Vũ, Thiên Đồng đương; cách nhị Liêm Trinh vị."

Ví dụ bài trước: Tử Vi tại Dậu. Lùi 1: Thân có Thiên Cơ. Lùi 3: Ngọ có Thái Dương. Lùi 4: Tỵ có Vũ Khúc. Lùi 5: Thìn có Thiên Đồng. Lùi 8: Sửu có Liêm Trinh.

2. An Thiên Phủ

Thiên Phủ và Tử Vi đối xứng nhau qua trục Dần–Thân. Bảng tra:

Mã:
Tử Vi ở : Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Phủ ở : Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão

Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì Phủ đồng cung với Tử Vi. Ví dụ: Tử Vi Dậu thì Thiên Phủ ở Mùi.

3. Thiên Phủ tinh hệ (8 sao, đi THUẬN)

Từ cung Thiên Phủ đếm thuận:

Mã:
Thiên Phủ : cung gốc Thái Âm : tiến 1 Tham Lang : tiến 2 Cự Môn : tiến 3 Thiên Tướng : tiến 4 Thiên Lương : tiến 5 Thất Sát : tiến 6 (bỏ trống 3 cung) Phá Quân : tiến 10

Ví dụ: Phủ tại Mùi. Thân có Thái Âm, Dậu có Tham Lang, Tuất có Cự Môn, Hợi có Thiên Tướng, Tý có Thiên Lương, Sửu có Thất Sát, Tỵ có Phá Quân.

4. Lá số ví dụ sau khi an chính tinh

Mã:
Tỵ: Vũ Khúc, Phá Quân | Ngọ: Thái Dương | Mùi: Thiên Phủ | Thân: Thiên Cơ, Thái Âm Thìn: Thiên Đồng | | | Dậu: Tử Vi, Tham Lang Mão: (trống) | | | Tuất: Cự Môn Dần: (trống) | Sửu: Liêm Trinh, Thất Sát| Tý: Thiên Lương (MỆNH)| Hợi: Thiên Tướng

Mệnh tại Tý có Thiên Lương thủ. Thân tại Ngọ có Thái Dương. Cung Mão và Dần vô chính diệu, khi luận phải mượn sao ở Dậu (Tử Tham) và Thân (Cơ Nguyệt) chiếu sang.

5. Vài quy luật hay gặp, biết để kiểm tra
  • Tử Vi và Thiên Phủ luôn ở cùng một "tam giác" hoặc cách nhau theo quy luật, nên 12 vị trí của Tử Vi chỉ tạo ra 12 kiểu bố cục chính tinh. Học thuộc 12 kiểu này là đọc lá số cực nhanh.
  • Các cặp luôn đồng cung hoặc luôn đối cung: Tử Vi – Tham Lang (khi ở Mão Dậu), Vũ Khúc – Phá Quân (Tỵ Hợi), Liêm Trinh – Thất Sát (Sửu Mùi), Thiên Cơ – Thái Âm (Dần Thân), Thiên Đồng – Thiên Lương (Dần Thân), Cự Môn – Thái Dương (Dần Thân)...
  • Sát Phá Tham luôn ở tam hợp với nhau. Tử Phủ Vũ Tướng cũng vậy. Cơ Nguyệt Đồng Lương cũng vậy. Đây là ba nhóm cách cục lớn.
  • Không bao giờ có cung nào chứa quá 2 chính tinh. Nếu an ra 3 thì sai ở đâu đó.

Bài sau: các vòng sao lớn (Thái Tuế, Lộc Tồn, Trường Sinh), Tuần Triệt và Tứ Hóa. Sau bài đó là an được lá số hoàn chỉnh.

In bài này

  Phép an sao (1): Lập địa bàn, an Mệnh Thân, định Cục, an sao Tử Vi
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 10:24 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi - Chưa có trả lời

Đây là bài quan trọng nhất của cả mục. Ai nắm được bài này là tự an được lá số bằng giấy bút. Tôi làm từng bước, mỗi bước có ví dụ.

Ví dụ xuyên suốt: nam, sinh ngày 16 tháng 8 âm lịch, giờ Dậu, năm Giáp Tý.

Bước 1. Vẽ địa bàn

Mã:
Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân -----+-----+-----+----- Thìn | | Dậu -----+ +----- Mão | | Tuất -----+-----+-----+----- Dần | Sửu | Tý | Hợi

Vị trí các chi là cố định, học thuộc luôn. Dần ở góc dưới trái, đi thuận (chiều kim đồng hồ).

Bước 2. An cung Mệnh

Quy tắc: Khởi từ cung Dần gọi là tháng Giêng, đếm thuận đến tháng sinh. Từ cung đó gọi là giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh. Dừng ở đâu, đó là Mệnh.

Ví dụ: tháng 8. Dần là 1, Mão 2, Thìn 3, Tỵ 4, Ngọ 5, Mùi 6, Thân 7, Dậu 8. Từ Dậu gọi là Tý, đếm nghịch: Dậu (Tý), Thân (Sửu), Mùi (Dần), Ngọ (Mão), Tỵ (Thìn), Thìn (Tỵ), Mão (Ngọ), Dần (Mùi), Sửu (Thân), Tý (Dậu). Mệnh an tại Tý.

Bước 3. An cung Thân

Quy tắc: Cũng khởi từ Dần đếm thuận đến tháng sinh, rồi từ đó gọi là giờ Tý, đếm THUẬN đến giờ sinh.

Ví dụ: đến Dậu (tháng 8), từ Dậu gọi Tý đếm thuận: Dậu (Tý), Tuất (Sửu), Hợi (Dần), Tý (Mão), Sửu (Thìn), Dần (Tỵ), Mão (Ngọ), Thìn (Mùi), Tỵ (Thân), Ngọ (Dậu). Thân an tại Ngọ.

Mẹo kiểm tra: Mệnh và Thân luôn đối xứng qua trục tháng sinh. Thân chỉ có thể rơi vào Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài, Phối. Ở đây Mệnh Tý, đếm thuận: Sửu là Phụ Mẫu, Dần Phúc, Mão Điền, Thìn Quan, Tỵ Nô, Ngọ Thiên Di. Thân cư Thiên Di, hợp lệ.

Bước 4. An 12 cung

Từ Mệnh đếm thuận: Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ. Ghi tên cung vào từng ô.

Bước 5. Định Cục

Cục lấy theo can năm sinh và cung an Mệnh. Bản chất là ngũ hành nạp âm của can chi cung Mệnh, nhưng học thuộc bảng này là đủ:

Mã:
Can năm | Tý Sửu | Dần Mão | Thìn Tỵ | Ngọ Mùi | Thân Dậu | Tuất Hợi -------------+--------+---------+---------+---------+----------+--------- Giáp, Kỷ | Thủy 2 | Hỏa 6 | Mộc 3 | Thổ 5 | Kim 4 | Hỏa 6 Ất, Canh | Hỏa 6 | Thổ 5 | Kim 4 | Mộc 3 | Thủy 2 | Thổ 5 Bính, Tân | Thổ 5 | Mộc 3 | Thủy 2 | Kim 4 | Hỏa 6 | Mộc 3 Đinh, Nhâm | Mộc 3 | Kim 4 | Hỏa 6 | Thủy 2 | Thổ 5 | Kim 4 Mậu, Quý | Kim 4 | Thủy 2 | Thổ 5 | Hỏa 6 | Mộc 3 | Thủy 2

Ví dụ: năm Giáp, Mệnh tại Tý, tra được Thủy nhị cục.

Bước 6. An sao Tử Vi

Đây là chỗ người mới hay rối. Quy tắc:

  1. Lấy ngày sinh chia cho số cục.
  2. Nếu chia hết: thương là bao nhiêu thì từ Dần (là 1) đếm thuận bấy nhiêu cung, dừng ở đâu Tử Vi an ở đó.
  3. Nếu không chia hết: cộng thêm vào ngày sinh một số nhỏ nhất để chia hết. Lấy thương đếm từ Dần như trên, được cung tạm. Rồi xét số đã cộng thêm: nếu là số lẻ thì từ cung tạm đếm nghịch bấy nhiêu cung, nếu là số chẵn thì đếm thuận bấy nhiêu cung.

Ví dụ: ngày 16, Thủy nhị cục. 16 chia 2 được 8, chia hết. Từ Dần đếm 8: Dần 1, Mão 2, Thìn 3, Tỵ 4, Ngọ 5, Mùi 6, Thân 7, Dậu 8. Tử Vi an tại Dậu.

Ví dụ khác cho trường hợp không chia hết: ngày 7, Kim tứ cục. 7 không chia hết cho 4, cộng thêm 1 thành 8, thương là 2. Từ Dần đếm 2 đến Mão. Số cộng thêm là 1 (lẻ) nên từ Mão lùi 1 cung về Dần. Tử Vi tại Dần.

Ví dụ nữa: ngày 2, Hỏa lục cục. Cộng thêm 4 thành 6, thương là 1, đến Dần. Số thêm là 4 (chẵn) nên từ Dần đếm thuận 4: Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Tử Vi tại Ngọ.

Bước 7. Ghi thiên bàn

Vào ô giữa ghi: họ tên, giới tính, ngày giờ sinh, bản mệnh (Giáp Tý là Hải trung Kim), cục (Thủy nhị cục), âm dương (năm Giáp là dương, nam là dương, vậy là dương nam). Chữ "dương nam" hay "âm nữ" quyết định chiều đi của đại hạn và nhiều vòng sao, sẽ dùng ở bài sau.

Bài sau: từ vị trí Tử Vi an trọn 14 chính tinh.

Bài tập: các bác thử an Mệnh, Thân, Cục và Tử Vi cho chính mình rồi đăng kết quả dưới đây, tôi soát cho.

In bài này

  Thuật ngữ nhập môn: Mệnh, Thân, Cục, Cung, Chính tinh, Phụ tinh, Miếu Vượng Đắc Hãm
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 09:59 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi - Chưa có trả lời

Bài này là "từ điển bỏ túi". Đọc một lần, sau gặp chữ nào quên thì quay lại tra.

Địa bàn: bàn vuông 12 ô, mỗi ô là một cung mang tên địa chi cố định: Dần ở góc dưới trái, đi thuận chiều kim đồng hồ: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu. Ô giữa gọi là Thiên bàn, ghi thông tin người có lá số.

Thuận / Nghịch: thuận là đi theo chiều kim đồng hồ (Dần sang Mão), nghịch là ngược lại. Mọi quy tắc an sao đều nói "đếm thuận" hay "đếm nghịch", nên phải nắm chắc.

Cung Mệnh: cung gốc, nói về bản thân, tính cách, thể chất, khuynh hướng chung của đời người. Mọi cung khác được đặt tên từ Mệnh mà ra.

Cung Thân: cung phụ trợ, nói về nửa đời sau và cái người ta "trở thành". Thân luôn trùng với một trong sáu cung: Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê. Thân ở cung nào thì đời người nghiêng về việc đó.

12 cung (đếm thuận từ Mệnh): Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ.

Tam hợp: ba cung cách nhau 4 ô, tạo thành tam giác. Mệnh tam hợp với Tài Bạch và Quan Lộc, gọi là tam phương. Cung đối diện Mệnh là Thiên Di, gọi là xung chiếu. Bốn cung này gọi chung là tam phương tứ chính, khi luận Mệnh phải nhìn cả bốn.

Nhị hợp: cặp cung Tý-Sửu, Dần-Hợi, Mão-Tuất, Thìn-Dậu, Tỵ-Thân, Ngọ-Mùi. Cung nhị hợp có ảnh hưởng ngầm, phái Việt Nam dùng nhiều.

Cục: mệnh cục, gồm Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục. Cục quyết định vị trí sao Tử Vi và tuổi bắt đầu đại hạn (2, 3, 4, 5, 6 tuổi).

Bản mệnh: ngũ hành nạp âm của năm sinh (ví dụ Giáp Tý là Hải trung Kim). Khác với Cục. Bản mệnh so với Cục và so với hành của chính tinh thủ Mệnh để xem sinh khắc.

Chính tinh: 14 sao lớn, chia hai hệ. Hệ Tử Vi: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh. Hệ Thiên Phủ: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Mỗi cung có 0, 1 hoặc 2 chính tinh. Cung không có chính tinh gọi là Vô chính diệu, phải mượn sao cung xung chiếu.

Phụ tinh (còn gọi bàng tinh, tạp diệu): hơn 90 sao còn lại. Quan trọng nhất là lục cát (Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt) và lục sát (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp).

Tứ Hóa: bốn "biến hóa" gắn thêm vào bốn sao tùy theo can năm sinh: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ. Ba cái đầu tốt, cái cuối xấu.

Miếu, Vượng, Đắc, Hãm: độ sáng của sao tại từng cung. Miếu là sáng nhất, sao phát huy hết tính tốt. Vượng kém một chút. Đắc địa là tạm được. Hãm địa là sao mất sức, tính xấu lộ ra. Cùng một sao Thái Dương, ở Ngọ thì rực rỡ, ở Tý thì "mặt trời nửa đêm". Bảng miếu hãm các sách chép hơi khác nhau, người học nên chọn một bảng và dùng nhất quán.

Tuần, Triệt: hai "khoảng trống" chắn ngang hai cung liền nhau. Sao nằm trong đó bị giảm sức: tốt bớt tốt, xấu bớt xấu. Đây là đặc sản Tử Vi Việt Nam, sẽ có bài riêng.

Đại hạn: mỗi giai đoạn 10 năm đi qua một cung. Tiểu hạn: mỗi năm một cung theo vòng riêng. Lưu niên: năm hiện tại, an thêm một số sao lưu động.

Thủ, Chiếu, Hội: sao thủ là sao nằm ngay trong cung đang xét. Sao chiếu là sao nằm ở tam phương tứ chính chiếu về. Hội là gặp nhau, thường nói "Mệnh hội Sát Phá Tham".

Cách cục: tổ hợp sao có tên riêng, ví dụ "Tử Phủ Vũ Tướng", "Sát Phá Tham", "Cơ Nguyệt Đồng Lương", "Cự Nhật", "Nhật Nguyệt tịnh minh". Biết cách cục là đọc lá số nhanh gấp mấy lần.

Còn thuật ngữ nào các bác gặp mà không có ở đây, hỏi bên dưới, tôi bổ sung.

In bài này

  Tử Vi Đẩu Số là gì? Nguồn gốc, các phái và cách vào cửa
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 09:34 - Chuyên mục: Lý thuyết Tử Vi - Chưa có trả lời

Lời mở

Ngày xưa lên mạng mắc lắm, mỗi lần vào diễn đàn là in bài về đọc dần. Bài này tôi viết cho người mới, theo cách tôi ước gì mình được đọc từ hai mươi năm trước: ít chữ Hán, nhiều ví dụ, và nói thẳng chỗ nào là truyền thuyết, chỗ nào là phương pháp.

1. Tử Vi Đẩu Số là gì

Là một môn dự đoán mệnh lý của Đông phương, lấy năm, tháng, ngày, giờ sinh (âm lịch) để an hơn một trăm "sao" vào 12 cung trên một bàn vuông gọi là địa bàn. Mỗi cung ứng với một lĩnh vực đời người: Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ.

Chữ "sao" ở đây không phải sao trên trời. Chúng là các ký hiệu mang tính lý (nóng, lạnh, động, tĩnh, sinh, sát) được đặt lên bàn theo quy tắc số học. Người mới hay đi tìm sao Tử Vi ngoài thiên văn, không có đâu.

2. Nguồn gốc

Truyền thống gán môn này cho Trần Đoàn (Hi Di lão tổ) đời Tống. Sách gốc là Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Vào Việt Nam qua các nhà nho, được Việt hóa mạnh ở thế kỷ 20. Người có công phổ biến bằng tiếng Việt là cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang với Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (1952). Sau đó là các cụ Nguyễn Phát Lộc, Thiên Lương, Hà Lạc Dã Phu, Song An Đỗ Văn Lưu, mỗi cụ một lối riêng.

Tôi viết vậy để anh chị em thấy: Tử Vi Việt Nam không phải là bản sao Tử Vi Trung Hoa. Có những sao, những cách an và cách luận chỉ bên mình mới dùng, và ngược lại.

3. Các phái thường gặp

  • Phái Việt Nam cổ điển (Thái Thứ Lang, Nguyễn Phát Lộc): an sao đầy đủ, coi trọng Tuần Triệt, vòng Thái Tuế, Lộc Tồn, Trường Sinh. Cách luận tổng hợp, "đọc cả bàn".
  • Phái Thiên Lương: nhấn mạnh vòng Thái Tuế và tính lý âm dương của tuổi, ít lệ thuộc chính tinh.
  • Trung Châu phái (Hồng Kông, Vương Đình Chi): chú trọng chính tinh và Tứ Hóa, bỏ nhiều tạp diệu.
  • Phi tinh Tứ Hóa (Đài Loan): gần như chỉ dùng Tứ Hóa bay giữa các cung.

Người mới không cần chọn phái. Cứ học an sao chuẩn Việt Nam trước, luận theo lối tổng hợp, sau này gặp phái nào cũng đọc được.

4. Vào cửa như thế nào

Tôi khuyên đi theo đúng thứ tự này, đừng nhảy cóc:

  1. Thuộc 12 địa chi, 10 thiên can, ngũ hành sinh khắc. Một tuần.
  2. Học an sao bằng tay ít nhất 20 lá số, không dùng phần mềm. Đây là bước quyết định. Ai bỏ bước này sau đọc lá số như đọc bảng số điện thoại.
  3. Học tính lý 14 chính tinh, rồi lục cát lục sát, rồi Tứ Hóa.
  4. Học các vòng: Thái Tuế, Lộc Tồn, Trường Sinh. Học Tuần Triệt.
  5. Học đại hạn, tiểu hạn, lưu niên.
  6. Bắt đầu luận số người thân, những người mình biết rõ cuộc đời, để nghiệm.

Các bài tiếp theo trong mục này tôi sẽ đi đúng thứ tự ấy. Ai có câu hỏi cứ trả lời dưới, tôi gom lại sửa vào bài.


Phủ Tướng Triều Viên

In bài này

  Ngày xưa bạn học lý số ở diễn đàn nào?
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 09:09 - Chuyên mục: Trà đàm - Chưa có trả lời

Topic này để ôn lại thôi, không học thuật gì.

Tôi nhớ những cái tên: lyso, tuvivietnam, tuvi cohoc, vietlyso, huyenkhonglyso, và mấy diễn đàn nhỏ trên invisionfree, phpbb mà giờ không nhớ nổi địa chỉ. Nhớ cái cảm giác đêm khuya, mạng chậm, mở một topic dài mấy chục trang của một tiền bối, đọc mà quên cả giờ. Nhớ những cuộc cãi nhau về Tuần Triệt kéo dài cả năm. Nhớ những người ký tên "lão nông", "cụ đồ", "khách qua đường" mà bài viết hơn cả sách.

Nhiều người trong số đó giờ không còn. Nhiều bài viết cũng mất theo diễn đàn.

Bạn thì sao? Học ở đâu, nhớ ai, nhớ bài nào? Có ai còn giữ bài cũ, ảnh chụp màn hình cũ không, đăng lên cho vui. Biết đâu gặp lại người quen.

Ai đang giữ tư liệu nghiêm túc thì chuyển sang mục Tư liệu và Tiểu sử, còn đây là chỗ ngồi uống trà.

In bài này

  Phủ Tướng Triều Viên xin ra mắt
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 08:44 - Chuyên mục: Giới thiệu và Làm quen - Chưa có trả lời

Chào cả nhà.

Tôi lấy tên Phủ Tướng Triều Viên. Thiên Phủ và Thiên Tướng là hai sao giữ kho và giữ ấn, hiền lành, ưa ổn định, thích phò tá hơn thích làm vua. "Triều Viên" là chầu về vườn, ý là về lại chỗ cũ mà trồng lại.

Đến với lý số từ những năm còn mạng quay số, đọc bài các tiền bối trên các diễn đàn cũ mà thành người mê. Học không thầy, nghiệm không hết, nên không dám gọi là biết. Nhưng những cái nền thì đã đi qua, và thấy người mới bây giờ thiếu nhất là một chỗ nói cho có đầu có đuôi.

Nên lập ra chỗ này. Bài mở đầu mỗi mục là tôi viết, để có cái mà cãi. Ai thấy sai cứ chỉ, tôi sửa vào bài và ghi tên người sửa.

Mấy điều tôi tin, nói trước để anh chị em biết mình đang nói chuyện với ai:

  • Số là thật, và số đổi được. Hai điều cùng đúng.
  • An sao bằng tay là bước không được bỏ.
  • Người xem số không được dọa người. Dọa là kém, không phải giỏi.
  • Cái gì mình chưa nghiệm thì chưa nói.

Mời mọi người trả lời dưới đây, kể mình đến với lý số thế nào, học môn gì, đọc sách gì. Không cần khai tên thật, tuổi thật.

Kính.

In bài này

  Phần mềm an sao: dùng cái gì, và năm chỗ hay sai cần kiểm tra
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 08:19 - Chuyên mục: Phần mềm và Công cụ - Chưa có trả lời

Phần mềm an sao là tiện, nhưng người không biết an tay thì không phát hiện được phần mềm sai. Bài này nói về cách chọn và cách kiểm.

1. Các loại công cụ

  • Trang web an sao: nhiều nhất, tiện nhất. Chất lượng khác nhau. Có trang theo phái Việt, có trang theo phái Trung Châu, bảng sao khác nhau.
  • Phần mềm cài máy: các bản cũ trên Windows từ thời diễn đàn đời đầu. Nhiều bản không còn chạy trên máy mới, cần giả lập.
  • Ứng dụng điện thoại: tiện mang theo, nhưng hay lẫn quảng cáo và bán "luận giải tự động".
  • Tự viết: ai biết lập trình thì nên tự viết một lần. Viết xong mới hiểu hết quy tắc an sao. Trên diễn đàn có anh em làm trang tuvi.work theo đúng bảng an sao Việt Nam, giao diện giấy dó giống diễn đàn này, dùng tham khảo tốt.

2. Năm chỗ phần mềm hay sai

  1. Đổi lịch dương sang âm: tháng nhuận và ngày đầu tháng âm là chỗ dễ sai nhất, đặc biệt các năm trước 1968 khi Việt Nam đổi múi giờ tính lịch. Kiểm bằng lịch vạn niên in giấy.
  2. Giờ Tý đầu ngày: sinh 23 giờ đến 1 giờ, phần mềm tính ngày nào? Phải có tùy chọn. Không có thì tự đổi ngày rồi nhập.
  3. Tuần Triệt: một số phần mềm Trung Quốc không an Tuần Triệt hoặc an theo cách khác. Phần mềm Việt phải có.
  4. Bảng Tứ Hóa: tuổi Canh, Nhâm có dị bản. Xem phần mềm dùng bảng nào.
  5. Hỏa Linh, Thiên Mã, Đào Hồng: các sao lẻ an theo nhiều thuyết. Nếu phần mềm không ghi rõ dùng thuyết nào thì so với sách Tân Biên.

3. Cách kiểm tra một phần mềm trong 10 phút

Lấy lá số ví dụ trong bài Phép an sao (1): nam, ngày 16 tháng 8 âm, giờ Dậu, năm Giáp Tý. Kết quả chuẩn:
  • Mệnh tại Tý, Thân tại Ngọ, Thủy nhị cục, dương nam.
  • Tử Vi tại Dậu (cùng Tham Lang), Thiên Phủ tại Mùi.
  • Mệnh có Thiên Lương thủ. Thân có Thái Dương.
  • Lộc Tồn tại Dần. Kình Dương Mão, Đà La Sửu.
  • Tuần tại Tuất Hợi. Triệt tại Thân Dậu.
  • Tứ Hóa: Liêm Trinh Lộc, Phá Quân Quyền, Vũ Khúc Khoa, Thái Dương Kỵ.

Phần mềm nào ra đúng hết là dùng được. Sai chỗ nào thì biết mà chỉnh tay.

4. Lời khuyên

Học an tay 20 lá số rồi mới dùng phần mềm. Dùng phần mềm để tiết kiệm thời gian, không để thay hiểu biết. Và không bao giờ tin "luận giải tự động", đó là ghép câu theo mẫu, không phải luận.

Ai biết công cụ nào tốt, đăng link và nói rõ nó an theo phái nào, có Tuần Triệt không.

In bài này

  Danh mục sách Tử Vi tiếng Việt kinh điển và nên đọc theo thứ tự nào
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 07:54 - Chuyên mục: Sách và Tài liệu - Chưa có trả lời

Sách Tử Vi tiếng Việt không nhiều, nhưng lộn xộn. Tôi liệt kê những cuốn đã thành kinh điển, ghi rõ đọc lúc nào, để người mới không mua nhầm.

Nhóm 1: Nhập môn và an sao (đọc đầu tiên)

  • Tử Vi Đẩu Số Tân Biên – Vân Đằng Thái Thứ Lang (1952). Cuốn nền của Tử Vi Việt Nam. Phần an sao đầy đủ, phần tính lý các sao viết gọn, bảng miếu hãm được đa số dùng. Ai học Tử Vi Việt cũng nên có một bản. Cách hành văn cũ, đọc chậm.
  • Tử Vi Hàm Số – Nguyễn Phát Lộc. Trình bày có hệ thống hơn, phân tích từng cung, có lối luận "tổng hợp". Hợp cho người đã biết an sao.

Nhóm 2: Luận giải và nghiệm lý (đọc khi đã an được lá số)
  • Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc. Bàn về cách cục và phương pháp luận. Quan điểm rõ ràng, nhiều ví dụ.
  • Tử Vi Nghiệm Lý – Thiên Lương. Lối riêng hoàn toàn: coi trọng vòng Thái Tuế, âm dương của tuổi, giảm vai trò chính tinh. Đọc để mở rộng, đừng đọc đầu tiên vì sẽ lệch.
  • Tử Vi Áo Bí – Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử. Chuyên về các bí quyết luận, nhiều câu phú giải nghĩa. Đọc khi đã vững.
  • Tử Vi Chỉ Nam – Song An Đỗ Văn Lưu. Ngắn gọn, trình bày kiểu bảng, tiện tra.

Nhóm 3: Cổ thư (đọc để hiểu gốc)
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Hi Di Trần Đoàn, bản dịch Vũ Tài Lục. Sách gốc, nhiều phú, nhiều cách cục. Bản dịch có chỗ khó, nên đọc song song với sách Việt.
  • Các bài phú Tử Vi (Thái Vi phú, Hình tính phú, Cốt tủy phú, Nữ mệnh phú) được in kèm trong nhiều sách. Phú là công thức cô đọng của người xưa, mỗi câu là một cách cục.

Nhóm 4: Sách Trung Châu, Đài Loan (đọc khi muốn so sánh)
  • Vương Đình Chi (Trung Châu phái): bộ sách về 14 chính tinh, cách luận theo tinh hệ và Tứ Hóa. Bản dịch tiếng Việt có một số cuốn.
  • Sách Phi tinh Tứ Hóa của Đài Loan: chỉ đọc khi đã hiểu Tứ Hóa gốc.

Thứ tự đọc tôi khuyên

Tân Biên (an sao, tính lý) → Hàm Số (luận cung) → Tổng Hợp (cách cục) → Toàn Thư (gốc) → Nghiệm Lý và Áo Bí (mở rộng) → sách Trung Châu (so sánh).

Vài lưu ý khi mua sách cũ
  • Sách in trước 1975 thường bị photo lại, thiếu trang, sai bảng. Đối chiếu bảng an sao với bài Phép an sao trên diễn đàn này.
  • Có nhiều sách "Tử Vi trọn đời", "Tử Vi 12 con giáp" ngoài hiệu sách. Không phải Tử Vi Đẩu Số, đừng mua.
  • Sách của cùng một tác giả có nhiều bản in, bản sau thường sửa bản trước.

Ai có sách hiếm, sách chép tay, xin chụp bìa và mục lục đăng vào đây. Diễn đàn không đăng nguyên cuốn sách còn bản quyền, nhưng thư mục và trích đoạn ngắn thì được.

In bài này

  Nhân quả và mệnh lý: người tin số có mâu thuẫn với người tin nghiệp không?
Người đăng: Phủ Tướng Triều Viên - 06-09-2026, 07:29 - Chuyên mục: Phật học - Chưa có trả lời

Câu hỏi này đã cãi nhau cả trăm năm trên các diễn đàn cũ. Tôi không định kết luận, chỉ sắp xếp lại cho gọn để ai vào sau khỏi cãi lại từ đầu.

1. Hai lập luận thường gặp

Phía phản đối: Phật dạy nghiệp do mình tạo, mình chuyển được. Tin số là tin định mệnh, là bỏ tu, là phó mặc. Xem bói là tà mệnh, Phật cấm.

Phía ủng hộ: lá số chính là bản đồ nghiệp quá khứ. Biết nghiệp để mà tu, chứ không phải để chịu. Tử Vi có câu "đức năng thắng số", nhà Phật có câu "tu là chuyển nghiệp", cùng một ý.

2. Chỗ hai bên đều đúng

Phật giáo phân biệt định nghiệp và bất định nghiệp. Có việc đã chín, khó đổi. Có việc còn xanh, đổi được. Mệnh lý cũng phân biệt cái "số" (khung) và cái "vận" (đường đi trong khung). Khung khó đổi, đường đi đổi được.

Cả hai đều nói: có phần cố định, có phần tự do. Khác nhau ở chỗ nhấn mạnh phần nào.

3. Chỗ Phật cấm

Kinh Phạm Võng và nhiều kinh khác liệt kê "tà mệnh": tăng sĩ lấy xem bói, chú thuật làm kế sinh nhai để nuôi thân. Điểm cấm là lợi dụng để kiếm sống và mê hoặc người, không phải bản thân việc biết. Chính trong kinh cũng kể chuyện Phật đoán trước nhiều việc.

Nên ranh giới khá rõ: xem để hiểu mình, để khuyên người tu sửa thì không trái. Xem để dọa người, để bán "giải hạn", để người ta lệ thuộc mình thì trái.

4. Người học số nên giữ gì từ nhà Phật

  • Không phán chết. Không ai biết định nghiệp của người khác. Nói "năm sau anh chết" là gieo sợ hãi, mà sợ hãi tự nó là nghiệp xấu.
  • Không dựng "giải hạn". Hạn không giải bằng lễ mà giải bằng đổi hành vi. Đây là chỗ mệnh lý và Phật học đồng ý tuyệt đối.
  • Xem xong phải có lời khuyên tu sửa. Lá số xấu ở cung Nô Bộc thì khuyên chọn bạn, đừng khuyên đeo đá.
  • Không lệ thuộc. Học số để tự chủ hơn, không phải để mỗi việc đều phải hỏi.

5. Câu chuyện cụ Viên Liễu Phàm

Liễu Phàm Tứ Huấn là sách dạy con của Viên Hoàng đời Minh. Ông được một thầy số đoán trọn đời, đoán đâu đúng đó, kể cả năm thi đỗ hạng mấy, lương bao nhiêu, không có con, chết năm 53 tuổi. Ông tin là số đã định, sống như người chết rồi. Sau gặp thiền sư Vân Cốc, được dạy "số do mình tạo, phúc do mình cầu", ông bắt đầu làm việc thiện có ghi chép, hằng ngày. Từ đó những điều thầy đoán không còn đúng nữa: có con, đỗ cao hơn, sống qua 53 tuổi nhiều năm.

Sách này được cả người học Phật lẫn người học số coi là kinh điển, chính vì nó không phủ nhận bên nào. Số là thật, và số đổi được. Ai chưa đọc nên đọc, bản tiếng Việt ngắn, một buổi là xong.

Mời mọi người bàn tiếp, giữ lễ.

In bài này